Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
430,539

Một lần nữa tôi "được" đi cứu trợ bà con dân tộc làng Kon D'Xinh, KonTum (HCH)

Tuesday, July 15, 200812:00 AM(View: 8196)
MỘT LẦN NỮA TÔI "ĐƯỢC" ĐI CỨU TRỢ 
BÀ CON DÂN TỘC LÀNG KON D'XINH, KONTUM 
( Báo cáo và cảm nhận về chuyến đi cứu trợ ngày 12/7/2008 ) 

Phải nói ngay là tôi “được” đi bởi hai lý do. Tiền và hàng cứu trợ do bá tánh gửi, trong đó nhiều nhất là các CHS Lương Văn Can vì mối quan hệ “kết nghĩa” với cái làng Bahnar nghèo khổ nói trên. Còn tôi chỉ thực hiện chức năng của cái máng xối, nghĩa là người đem toàn bộ số tiền và đồ vật được gửi gắm đến tận tay bà con dân làng. Thứ nữa tôi luôn cảm nhận, như Mẹ Têrêsa thành Calcutta từng nói, khi giúp người nghèo thì chính người nghèo cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ. Tôi lại đi với đứa con trai út nên được dịp kiểm chứng tận mắt thái độ của nó đối với người nghèo để nếu cần có thể điều chỉnh cho đúng hướng và để nó được học hỏi thêm từ những người anh em đồng loại kém may mắn.

Lần này số tiền tôi mang về Kon Tum, trước tiên là 2.000.000đ do vợ chồng một người bạn ở Toronto, Canada về trao từ cuối tháng 12/2007 vài ngày trước khi tôi vào bệnh viện. Trong dịp Tết, Phạm Thị Thảnh '76 cùng chồng từ NSW, Australia về thăm cuutro01agia đình đã gửi 200 đô Úc, quy ra tiền đồng VN được 3.000.000đ. Gia đình Huỳnh Văn Cung '75 hứa giúp 1.000 cuốn tập loại tốt giá trị trên 6 triệu. Vào giờ chót, trước khi đặt mua hàng, một đứa cháu gọi tôi bằng cậu ruột từ Sài Gòn gửi lên 3.000.000đ để “cậu tuỳ nghi giúp người nghèo”.

Với món tiền tôi giữ đã quá lâu và số tập kể trên, tôi đã bàn với ban tổ chức chuyến dã ngoại hè (tháng 6) của CHS Lương Văn Can nên kêu gọi các thành viên trong đoàn tuỳ khả năng đóng góp thêm bằng hiện vật hay hiện kim, rồi trên đường đi Buôn Đôn giúp một làng Êđê hay M’nông nghèo, để có tác dụng giáo dục về ý thức xã hội cho con cháu chúng ta trong đoàn như chúng ta đã từng làm trong các chuyến đi Tây Nguyên trước đây. Còn một mục đích sâu xa hơn. Từ nhiều năm nay, khi đời sống của đa số dân tộc bản địa Tây Nguyên trở nên khó khăn cơ cực do phải chịu đủ thứ bất công, thì hình ảnh người Kinh, mà tất cả các dân tộc ít người ở VN đều thống nhất gọi bằng từ Yoan, không được tốt đẹp trong tâm thức của họ. Người Bahnar thường có câu “De Yoan mé lớ” (Người Kinh xấu lắm). Trong một lớp học giáo lý, ông thầy người Kinh hỏi các em bé Thượng: Ai là người tốt nhất? Các em đồng loạt trả lời dễ dàng: Thiên Chúa. Còn ai là người xấu nhất? Các em ngây thơ đồng thanh trả lời không chút do dự: Yoan.(!! ?...) Thế đó! Nguyên nhân của tình trạng trên rất phức tạp, nhưng nói chung là do sự biến động dân số quá lớn gây nên một cú sốc đối với người bản địa Tây Nguyên và làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên ở đây. Như vậy, việc một số người Yoan đến giúp một làng dân tộc nghèo, dù ít hay nhiều, với tấm lòng trân trọng là một nghĩa cử đáng quý góp phần làm thay đổi hình ảnh của người Yoan. Đâu phải chỉ có những người Yoan từ đâu đâu ồ ạt đến đây lừa gạt, bóc lột, cướp đất, cướp rừng, ăn chận vô tội vạ tiền cứu trợ v.v… mà cũng còn có những người Yoan biết thật sự yêu thương họ như đồng loại đồng bào kém may mắn của mình.

Nhưng việc cứu trợ nhân chuyến đi du ngoạn không thành, vì khi tôi nhờ người bà con ở Buôn Ma Thuột liên hệ với Hội Chữ Thập Đỏ địa phương để xin phép thì tổ chức này tỏ ra e ngại với lý do “vùng nhạy cảm” để tránh phiền phức. Thôi thì, về cái quê hương Kon Tum xa xôi của tôi, giúp cho cái làng Bahnar nghèo khổ Kon D’Xinh mà đoàn thầy cô và CHS Lương Văn Can đến giao lưu ngày 15/6/1999 trong chuyến đi chơi xa lần đầu tiên. Vả lại, hầu như năm nào tôi cũng về thăm gia đình vài lần và sẵn dịp giúp cho bà con ở đây nên các quan chức địa phương và dân làng đều biết.

Sau chuyến đi Buôn Đôn ít ngày, Huỳnh Văn Cung đích thân chở đến nhà tôi 1.000 cuốn tập 100 trang. Tôi gọi điện đăng ký ngay chuyến xe đò Mai Linh mới khai thác tuyến đường Sài Gòn - Kon Tum, nhưng tập đoàn này làm sang không nhận chở hàng, nên ngày hôm trước, tôi và đứa con trai chở bằng Honda số tập ra bến xe Miền Đông gửi về trước. Hai cha con tôi đáp chuyến xe đò lúc 9 giờ đêm trên chặng đường dài 600km, mất hơn 11 tiếng. Ngày hôm sau, tôi chở con lên làng Kon D’Xinh cách Kon Tum 15km về phía Đông Bắc trên QL 24 đi Quảng Ngãi. Cách đây 9 năm đây là con đường cấp phối, bằng đất đá, nay đã được tráng nhựa; đoạn đường này rất đẹp vì chạy quanh co qua vùng rừng núi hoang sơ. Tìm đến nhà già làng tên là Phênh thì may quá gặp ngay ông từ trong nhà đi ra. Đại gia đình ông cách đây 9 năm chỉ có độc cái nhà sàn nhỏ mái lợp tranh vách dừng phên nứa, nay dựng thêm được một căn nhà ngói. Trước đây ông không nói được tiếng Việt, trong lời đáp từ cảm ơn đoàn sau vài câu của thầy Bằng, phải nhờ một thầy giáo làm thông dịch, còn bây giờ ông nói khá sõi. Tôi hẹn với ông đúng 9 giờ ngày kia Thứ bảy (12/7) sẽ chở một ít lương thực cho bà con làng mình. Ông nhớ lại những lần trước, “của trường học Sài Gòn phải không?”, vì ông chỉ mường tượng một đám thầy trò từ Sài Gòn xa lắc xa lơ cách đây 9 năm đã kéo đến gồm già trẻ nam nữ lớn bé, có cả ngoại kiều to lớn và hằng năm vẫn gửi về giúp ít nhất cũng vài thùng bánh kẹo cho các cháu thiếu nhi. Lần nào cũng phải lên trước dặn dò cụ thể, để già làng và bà con ở nhà ngày hôm đó, chứ không họ sẽ đi “cái rẩy” hết.

Mấy lần trước khi đem đồ cứu trợ lên làng, tôi phải làm đơn xin phép với Chủ tịch xã Đak-Tre có trụ sở cách làng 2km hoặc làm chui, chở hàng đến nhà rông giao cho già làng rồi chào bà con đi về, vì một khi hàng đã đến nhà rông có già làng nhận rồi thì bảo đảm“Không ai bị quên trong cuộc chia phần thân ái đó và, từ đứa trẻ còn bú vú mẹ cho đến người già đáng kính nhất đều có phần bằng nhau”(*). Lần này, nhờ ông anh họ giới thiệu với bác sĩ Chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ tỉnh, ông gọi điện lên báo cho cô đặc trách Chữ Thập Đỏ ở huyện Kon-Rẫy là coi như yên tâm, khỏi lo có người anh em “phe ta” nào đó đi ngang qua thấy, yêu cầu về xã hoạnh hẹ có khi cả tuần lễ về ý đồ của việc làm từ thiện này như nhiều Việt kiều hảo tâm không biết “tuỳ tục”, đã từng bị.

Với số tiền nêu trên, năm ngoái có thể mua được khoảng hai tấn gạo ăn được, nhưng năm nay giá gạo tăng quá cao, nên tôi chỉ có thể mua 50 thùng mì gói Số Đỏ, mỗi thùng 100 gói = 5.000 gói x 1.500đ, hết 7.500.000đ, còn 500.000đ mua bánh kẹo loại ngon cho các cháu thiếu nhi trong làng. Năm ngàn gói mì chia cho gần 80 hộ (trung bình mỗi hộ 6 nhân khẩu), mỗi hộ cũng được 60 gói. Việc chuyên chở, tôi nhờ xe tải nhỏ của một đứa cháu có cửa hàng kinh doanh ga.

Đúng hẹn, cha con tôi và hai cô em gái cùng một đứa cháu

nhỏ đi Honda lên trước báo cho già làng. Đối với dân nghèo, giữ chữ tín đã là cần thiết để họ bớt tủi phận nghèo, nhưng đối với đồng bào dân tộc vốn chất phác chân thật một lời hứa còn quan trọng hơn rất nhiều: người thất hứa chỉ đáng khinh bỉ. Tiếc rằng nhiều cán bộ có quyền hành ở đây đã quên đi cái nguyên tắc cơ bản đó khiến đồng bào Thượng mất hết lòng tin, làm cho vùng đất Tây Nguyên luôn tiềm ẩn sự bất an và xáo trộn.

cuutro02aGià làng lên nhà rông đánh một hồi trống dài như lời mời gọi dân làng tụ tập. Từ các con đường mòn, từng nhóm phụ nữ bồng bế trẻ thơ và dắt theo con cái đi về nhà rông, vui vẻ như đi trẩy hội, vì biết rằng mỗi người sẽ nhận được phần quà, dù ít hay nhiều. Đối với người làm công tác xã hội, còn một quy tắc nữa mà tôi luôn cố gắng tôn trọng và thường nhắc nhở các cộng tác viên ở địa phương, đó là thà “người cho” phải chờ “người nhận” chứ không để đám đông dân chúng chờ đợi hàng giờ hàng cứu trợ, làm tăng thêm cái mặc cảm nghèo hèn của họ.

Khi những thùng mì được trai tráng trong làng xếp vào nhà rông, đại diện các hộ chờ nhận phần lương thực của mình, già làng và một vài người lớn cùng khách phân phát bánh kẹo cho các em bé, một món quà có thể nói là quá tầm thường đối với các thiếu nhi ở phố, nhưng lại quý giá đối với những đứa trẻ người dân tộc quanh năm sống ở cái làng hẻo lánh đèo heo hút gió này. Những ai từng phân phát quà cho các em bé Thượng, dù thuộc dân tộc nào đều ngạc nhiên về tính trung thực của các cháu: em nào đã nhận phần của mình rồi thì nhất định không nhận thêm phần nữa. Lý giải cho thói quen tốt lành này, thiết nghĩ phải trở về với tinh thần cộng đồng làng (plei, kon, buôn) vốn là đơn vị xã hội duy nhất từ hàng ngàn năm nay ở vùng đất này. Giữa những thành viên cùng một làng, có mối quan hệ gắn kết hầu như huyết thống. Khi có ai đó mổ thịt một con dê, con heo hay con bò thì người ta chia thịt thành từng phần đủ cho tất cả dân làng, còn phần người chủ không lớn hơn bao nhiêu. Các đứa trẻ ngay từ nhỏ cũng đã được rèn luyện theo tinh thần cộng đồng như thế. Vì vậy khi một em đã nhận phần của mình rồi, thì đối với em phần còn lại thuộc về những người khác. Từ đó, có một sự khác biệt giữa việc đi cứu trợ bà con người Kinh và đồng bào Thượng. Khi đến một địa phương miền xuôi, ban tổ chức phải gói từng phần quà và thường công bố cho bà con biết mỗi gói quà gồm có những gì, trước khi phát tận tay từng người theo danh sách cụ thể, chứ không dám gửi lại cho chính quyền địa phương. Áp dụng cách thức này đối với bà con dân tộc Tây Nguyên, chỉ làm cho dân làng gặp rắc rối khó khăn nếu số gói quà không đủ cho mọi thành viên của làng, từ bé thơ mới sinh cho đến cụ già sắp xuống lỗ. Một người dân làng không được nhận phần của mình, không chỉ có nghĩa đơn giản người đó mất đi một ít miếng ăn mà quan trọng hơn, cuutro03angười đó cảm thấy mình bị loại ra khỏi cộng đồng làng. Mà bị khai trừ khỏi làng là hình phạt nặng nề nhất, hơn cả cái chết đối với một người dân làng, bởi vì chỉ có một con đường duy nhất là vào rừng sống... với thú dữ và ma quỷ.

Giã từ bà con dân làng, tôi thường nói với họ vài câu Bahnar mà tôi mới bập bẹ được từ vài năm nay: Pơnê lớ! Pơnê lớ! (Cảm ơn nhiều) và lời từ biệt rất hay: We mă lưng! (Chúc ở lại an lành). Và đáp lại, bà con đồng thanh: Bok mă lưng! (Chúc ra đi an lành).

Còn 1.000 cuốn tập, không thể gửi cho làng, vì từ nhiều năm nay các học sinh người Thượng ở các làng xa được nhà trường cung cấp sách vở miễn phí. Tôi nhớ đến các nhà nội trú chui đang nuôi ăn ở các thiếu niên dân tộc từ các làng xa về thị xã học, mà Hội Giúp Người Nghèo (Help The Poor) tôi tham gia đã từng nhiều lần đến thăm và giúp đỡ. Gọi là chui bởi vì không được chính quyền địa phương cấp phép, mà có xin phép thì cũng không ai cho. Thật ra, công tác cứu trợ dù nhiều bao nhiêu cũng chỉ là muối bỏ biển so với nhu cầu quá lớn của đồng bào dân tộc năm nào cũng chịu đói triền miên trong mùa giáp hạt, và có thể tạo cho họ tinh thần ỷ lại, không tin vào sức mình mà cố gắng sản xuất. Chiến lược hàng đầu cho miền Tây Nguyên vẫn là giáo dục để từng bước nâng cao nhận thức và thay đổi não trạng của họ. Tuy nhiên, đó lại là công tác lâu dài và liên tục, thuộc về trách nhiệm của những người đang nắm quyền cai trị ở đây.

Tôi liên lạc được với nhà nội trú lớn nhất nuôi gần 200 học sinh Thượng thuộc đủ mọi dân tộc đang học cấp 3 và cao đẳng, và chở đến số tập để giúp các em có thêm phương tiện học tập. Không ngờ vị sư huynh trông coi nhà nội trú này tên là Paul Nu, con của ông Paul Nưr từng làm Bộ trưởng Bộ Sắc tộc thời chế độ cũ, thuộc làng Kon R’bang cách nhà tôi khoảng hai cây số.

Thông thường, sau khi nhận hàng cứu trợ, để tỏ lòng biết ơn già làng mời khách cùng thưởng thức rượu cần giữa tiếng cồng chiêng do trai tráng vừa tấu vừa đi chung quanh, như đoàn CHS Lương Văn Can đã được tham dự trước đây. Nhưng sau này, tôi xin miễn nghi thức đó để khỏi bị ép uống rượu “cho vui lòng chủ”, bù lại có lần các thiếu nữ mang đến các trái bầu khô trang trí bằng các hạt cây rừng xanh đỏ tròng vào cổ tôi như chút quà kỷ niệm. Nhưng tôi nghĩ nhìn ánh mắt long lanh của bà con dân làng, được các cụ già đưa đôi bàn tay khẳng khiu gầy đét nắm lấy có lẽ cũng quá đủ để cảm nhận được lòng biết ơn của những đồng loại đồng bào nghèo khổ đáng thương này. Còn một niềm vui nữa là chứng kiến cảnh thằng con trai út hăng say với chuyến cứu trợ: nó nhiệt thành tham gia bốc vác cùng với bà con dân làng và phân phát bánh kẹo cho các thiếu nhi với một thái độ rất trân trọng. Tôi tin nó cũng đã học hỏi nhiều và cảm nhận được niềm hạnh phúc vì đã làm được một công việc hữu ích cho đồng loại nghèo khổ.

Sau cùng, xin đại diện cho bà con dân làng Kon D’xinh, có thể nói cũng là đồng hương của tôi, cảm ơn tất cả những ai đóng góp cho chuyến cứu trợ này. Cũng như trong các lần trước, tôi đã cố gắng để công tác cứu trợ không bao giờ trở thành một việc phát chẩn, mà mang ý nghĩa của sự san sẽ giữa những người đủ ăn với những kẻ thiếu ăn như bà con dân làng vẫn thường làm với nhau mỗi khi gặp khó khăn thiếu thốn.

 Tháng 7/2008.



(*) Jacques Dournes, Populations montagnardes du Sud-Indochinois (1950), bản dịch “Miền đất huyền ảo” của Nguyên Ngọc, NXB Hội Nhà Văn, 2003, tr. 78.

Send comment
Your Name
Your email address