Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
430,948

Di Sản Văn Hóa Việt Nam - KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

Sunday, August 16, 201512:00 AM(View: 705)


KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN (DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ)

ds1-large

Trong hành trình di sản tại Việt Nam, có một loại hình di sản văn hóa vô cùng đặc biệt bởi sự kết hợp giữa nghệ thuật và không gian là không thể tách rời. Đó chính là Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.

Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới.

Chủ nhân của loại hình di sản văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai ...

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng … có thể nói âm vang của cồng chiêng từ nhiều năm đã luông vang vọng khắp núi rừng Tây Nguyên. Với mỗi người dân Tây Nguyên, bất kể già-trẻ, lớn-bé, trai-gái thì cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng luôn là tài sản vô giá.

Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".

Nếu đã từng tham dự một chương trình biểu diễn cồng chiêng, có lẽ sẽ không có ai không bị cuốn hút bởi âm thanh độc đáo phát ra từ những bộ cồng, bộ chiêng cùng với những điệu múa ấn tượng của đồng bào dân tộc.

Cồng là loại có núm, chiêng không núm.

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm.

Các dàn cồng chiêng thường gồm nhiều bộ. Mỗi bộ có số lượng khác nhau và đảm nhiệm những chức năng riêng trong cuộc hòa tấu. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc. Trong một bộ chiêng có chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất. Tên gọi của cồng chiêng có khi được đặt dựa theo âm thanh nhạc khí phát ra, có khi là tên gọi theo vị trí của nó trong dàn nhạc. Trong những dàn có từ 9 cồng chiêng trở lên thì có thêm cồng “cha” bên cạnh cồng “mẹ”, tiếp theo là các cồng “con”, cồng “cháu”… hình thành hệ thống gia đình, cồng “mẹ” luôn luôn đứng trước cồng “cha”, phù hợp với chế độ mẫu hệ của người Tây Nguyên. Trong quá trình biểu diễn, cồng “mẹ” và cồng “cha” đánh ra âm thanh trầm gần giống nhau để làm nền cho cả dàn nhạc. Kế tiếp là 3 cồng “con” cùng đánh một lượt với nhau thành một hòa âm, có tác dụng như những cây cột chống đỡ trong ngôi nhà. Những chiếc còn lại thì đánh so le theo thứ tự trước, sau, mau, chậm theo đúng quy định, phối hợp với nhau thành ra nét nhạc.

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng. Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm của riêng mình. Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3 âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản. Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác. Thành thử trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa. Điều đó lý giải tại sao âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu.

Bắt rễ từ truyền thống văn hóa Đông Sơn, cồng chiêng Tây Nguyên đến nay vẫn gắn bó vẹn nguyên dáng vẻ dân gian, thô mộc mà chắc khỏe, tinh tế và sâu lắng nơi núi rừng đại ngàn, cùng với tiếng thác nước ào ạt chảy đêm, tạo nên một không gian văn hóa đậm chất Tây Nguyên.

Về nguồn gốc, theo một số nhà nghiên cứu, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá. Trước khi có văn hóa đồ đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá ... tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng ...

Cồng chiêng thường được biểu diễn vào các dịp:

- Lễ hội cồng chiêng: được tổ chức luân phiên hàng năm (chưa theo định kỳ) tại 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.

Trong lễ hội, nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hóa của dân tộc và của tỉnh mình.

- Hội đua voi ở Buôn Đôn: thường được tổ chức vào tháng 3 các năm lẻ tại Buôn Đôn (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk).

- Hội Xuân Tây Nguyên: kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 ở các buôn làng ở Tây Nguyên.

Từ thuở sơ khai:
- Cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng.
- Biểu hiện của tín ngưỡng.
- Là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên ...

Cồng chiêng có mặt trong hầu hết các sinh hoạt văn hóa, lễ hội của người Tây Nguyên, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu ... hay trong một buổi nghe khan ... đều phải có tiếng cồng chiêng như là thứ để nối kết những con người trong cùng một cộng đồng.

Hầu như mỗi sinh hoạt đều gắn tiếng nhạc cồng chiêng. Lúc đứa trẻ mới lọt lòng thì già làng sử dụng cái cồng xưa cổ nhất đến bên giường để đánh lên những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé, khẳng định nó là một phần của cộng đồng. Khi đứa trẻ lớn lên, mỗi giai đoạn của đời sống, từ việc đồng áng cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, khi đón khách, lên nhà mới hay tang lễ … đều không thể thiếu tiếng cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội … của người nơi đây. Không chỉ có vậy, tiếng cồng chiêng còn đem đến đời sống của người Tây Nguyên sự lãng mạn. Đó chính là nguồn gốc của những áng sử thi, thơ ca đi vào lòng người.

Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao.

Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có.

Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Đó là trường hợp của các tộc người như: Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho ... Song, có những tộc người thì cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, như: Mạ, M’Nông. Riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng chiêng.
Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến ...

Trong đó bảo lưu cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển âm nhạc từ thời kỳ sơ khai. Ở đây, mọi giá trị nghệ thuật đều nằm trong mối quan hệ tương đồng và dị biệt, xác định cá tính vùng miền của nghệ thuật.

Và, với sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình diễn, những người dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi điêu luyện tuyệt vời. Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".

Ngày 25/11/2005, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Kể từ khi Không gian cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đã có nhiều tour du lịch đưa chương trình thưởng thức nghệ thuật cồng chiêng giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nước. Các chương trình tour hiện nay thường tổ chức tham quan không gian sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, thử các món ẩm thực Tây Nguyên và thưởng thức di sản văn hóa cồng chiêng.

Bởi khác với Nhã nhạc, Ca trù hay hát Xoan … Cồng Chiêng Tây Nguyên không thể chỉ nghe và xem biểu diễn. Thưởng thức âm vang cồng chiêng thiếu đi không gian văn hóa Tây Nguyên sẽ không thể ra “chất”, ra “hồn” Di sản.
Bên ánh lửa bập bùng, nhâm nhi ché rượu cần, thưởng thức món thịt thú rừng nướng thơm lừng và đắm mình trong âm vang núi rừng, trong âm vang cồng chiêng … đó mới đúng là trải nghiệm Di sản thế giới – Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.

(st-tổng hợp nhièu nguồn-hình ảnh internet).

NGUYỄN VÔ SƯU TẦM

ds3-large

ds4-large

ds5-large

ds6-large

ds7-large

ds8-large

ds9-large

ds10-large

ds11-large

ds12-large

ds13-large






Send comment
Your Name
Your email address