Tiếng Việt
Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
423,553

Vài Hồi Ức Về Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Cách Đây 50 Năm

28 Tháng Hai 201612:00 SA(Xem: 579)

Vài Hồi Ức

Về Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Cách Đây 50 Năm

HỒ CÔNG HƯNG

Trường Trung học Cộng đồng Quận 8 (THCĐQ8) (từ 1974 có tên Lương Văn Can) khai giảng năm học đầu tiên vào ngày 20.10.1966.

Đó không chỉ là Trung học công lập đầu tiên của Quận 8 mà còn là Trung học Cộng đồng đầu tiên của toàn miền nam.
Ngày 20.10 đã trở thành điểm mốc để hằng năm Ban Liên lạc Cựu học sinh tổ chức mừng kỷ niệm ngày thành lập trường bằng một buổi họp mặt hay cuộc dã ngoại ngắn ngày.

Về mặt pháp lý, năm 1967, Bộ Giáo dục mới có công văn thừa nhận trường, sau khi quy chế Trung học Đô thị và Tỉnh hạt ra đời.

Năm học đầu 1966-1967, trường chỉ có 8 lớp, 2 lớp Đệ Lục (lớp 7) và 6 lớp Đệ Thất (lớp 6), với gần 500 học sinh.

Không ngờ, mới đó mà THCĐQ8 đã trở thành chuyện ngày xưa vì đã qua 50 năm rồi. Tuy nhiên, các học sinh lứa đàn anh đàn chị, nay đã ở tuổi U70, chắc chắn còn lưu giữ nhiều kỷ niệm khó phai của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Từ góc nhìn của một người từng tham gia đôi chút vào việc thành lập và giảng dạy cũng như điều hành trường cách đây 50 năm, xin ghi lại một vài hồi ức về ngôi trường xưa thân yêu, như để nhớ về những ngày tháng đẹp thời trai trẻ của cái nghiệp làm thầy.

1. Quận 8 là vùng ven nghèo khổ và phức tạp của thành phố

Ngày 27.3.1959, với Nghị định số 110-NV, Quận 8 được thành lập với địa giới lấy một phần của Quận Tư, từ phía nam kinh Tàu Hủ. Thời đó, Quận Tư nổi tiếng là địa bàn của nhiều băng nhóm xã hội đen. Lực lượng Bình Xuyên qui tụ giới giang hồ ven Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo của Bảy Viễn, vốn là du đảng xuất thân từ khu vực Quân 8, từng làm chủ các sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và kiểm soát xóm nhà thổ Bình Khang, Ngã Năm Chuồng Chó v.v… Lực lượng này đã lập tổng hành dinh tại Dạ nam cầu chữ Y từ 1945 cho đến khi bị quân đội quốc gia đánh giạt ra Rừng Sác, rồi bị tiêu diệt hoàn toàn năm 1960.

Nhắc lại đôi chút lịch sử để thấy Trường Trung học của chúng ta ra đời trong một môi trường xã hội không những nghèo mà còn phức tạp. Lúc bấy giờ, nghe nói đến Quận 8, người dân nội thành còn rất ái ngại, ban đêm gọi cyclo hay taxi qua đó, tài xế không dám chạy. Một vài thầy cô nhận Sự vụ lệnh về trình diện ở trường, sau đó đã yêu cầu được chuyển đi trường khác. Chính từ bối cảnh Quận 8 như thế, thầy Nguyễn Ngọc Thạch, nhà thơ kiêm họa sĩ My Sơn, dạy Pháp văn và Hội họa, đã sáng tác hai bài thơ được nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ nhạc và trở thành hai ca khúc quen thuộc trong giới thanh thiếu niên hoạt động xã hội. Đó là bài “Xin chọn nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương…” với điệp khúc nói lên nổi cơ cực của người dân “phải lo chạy từng lưng cơm, áo che thân tàn”, “khi mùa mưa về cùng lem nhem, bước trong ngõ trơn” và nhưng rồi lạc quan vì “Hy vọng đã vươn lên…”. Tác giả nay đã thành người thiên cổ (2011).

2. Trường Trung học công lập đầu tiên ở Quận 8 và Trung học Cộng đồng đầu tiên của miền nam.

Năm 1966, hay tin Quận 8 sắp có một trường trung học cộng đồng, bà con địa phương rất vui mừng phấn khởi. Đồng bào đã hăng hái hưởng ứng công tác giải tỏa và chỉnh trang khu nghĩa địa hoang và bãi rác Khóm 5A (nay là Phường 4). Lúc Tòa Đô chính cho mượn chiếc xáng trong một thời gian ngắn để nạo vét Kinh Đôi và thổi bùn cát san lấp mặt bằng, nhiều người dân đã tự nguyện, cùng các cán bộ CTPTQ8, tham gia lắp ráp ống thổi và điều hành xáng chạy suốt 3 ca. Nhìn quang cảnh công trường hoạt động nhộn nhịp ban đêm, dưới ánh đèn manchon, mới cảm nhận được khí thế của tinh thần cộng đồng. Trước sự mong đợi của phụ huynh, bằng mọi giá, trường phải khai giảng cho kịp năm học.

Vì thế, khi nền mặt bằng vừa khô và được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục, thầy Nguyễn Phúc Khánh (dạy toán) nhận trách nhiệm xây dựng dãy nhà gồm 4 phòng học cùng với văn phòng và nhà kho trong vòng một tháng. Đồng thời, thông cáo tuyển sinh được gửi đến tất cả các trường tiểu học trong quận, nhưng lúc đó học sinh đang nghỉ hè nên CTPT phải dùng xe Lambretta 3 bánh gắn loa phóng thanh đến các khu chợ và nơi đông người để đọc thông cáo.

Theo qui chế của Bộ Giáo dục thời đó, trường tiểu học công lập lấy tên địa phương theo sau Cộng đồng (như Tiểu học Cộng đồng Chánh Hưng, Rạch Ông v.v…), còn các trường trung học, dù công lập hay tư thục, phải mang tên một danh nhân, không được trùng với tên trường có trước trên toàn miền nam (1). Sở dĩ trường chúng ta mang tên trung học cộng đồng vì nó được hình thành từ phương thưc phát triển cộng đồng, nghĩa là do cộng đồng và cho cộng đồng. Trong tinh thần đó, Bộ Giáo dục đã cho phép trường chỉ nhận những con em học sinh cư ngụ trong quận 8 và Bình Chánh kế cận (được “ăn theo” vì nghèo). Đây là một ngoại lê, bởi vì lúc đó không hề có việc phân tuyến, học sinh dù ở đâu cũng có thể nộp đơn thi vào bất kỳ trường trung học công lập nào.

3. Con đường Chánh Hưng lầy lội và bụi bặm dẫn vào trường

Quận 8 (2) có diện tích rộng khoảng 8km2, tức 800 ha, trong đó Phường Chánh Hưng (tức P.4 và 5 ngày nay) rộng hơn hết (trên 300 ha), dân cư lại thưa thớt và giáp ranh Xã Bình Hưng thuộc Bình Chánh, tỉnh Gia Định. Theo qui hoạch trên bản đồ Canh cải 1960, đường Chánh Hưng sẽ là con lộ chính nối từ đường vành đai (có lẽ là Tạ Quang Bửu bây giờ) đến đường Nguyễn Tri Phương, băng qua bến đò Hưng Phú và La Ca (Lacaze) bên Quận 5, bằng hai cây cầu tương lai. Tuy nhiên khi khai giảng năm học đầu tiên, con đường nầy còn là đất đỏ, chỉ dẫn vào đến Trại Nam Hải là khu di cư dời từ Dầu Tiếng về. Xa hơn nữa là con đường mòn xuyên qua bưng biền, rừng dừa nước, sú vẹt, ô rô, cóc kèn.. chạy dài đến hẻm Bông Sao và đường Liên tỉnh 5 (3). Bên phải con đường vào trường là đồng ruộng.

Những học sinh thời đó không sao quên cảnh quần áo đồng phục lấm lem khi lội bộ trên đoạn đường Chánh Hưng, gặp lúc trời mưa lầy lội. đặc biệt các nữ sinh với tà áo dài trắng.

Theo một thân hữu tên Đoàn Tuân, chuyên mua bán đất khu vực Quận 8 lúc bấy giờ, mà chính tai người viết nghe được, giá đất chung quanh trường vào giữa 1966 là 1,5 đồng/m2, tính ra 15.000đ một mẫu (10.000m2), trong khi lương tháng một thầy cô giáo cấp 3 là 11 - 12.000đ.. Mỗi lần nghĩ đến chuyện này, người viết thấy tiếc, giá như hồi đó nhà trường mua thêm một vài mẫu thì diện mạo của trường Lương Văn Can ngày nay chắc chắn sẽ khác hơn nhiều. Có thể có khu phức hợp thể thao như ở nhiều nước tiên tiến.

4. Nhà trường tìm đến gặp phụ huynh hơn là mời họ đến trường.

Quận 8 không xa trung tâm thành phố, tính theo đường chim bay, qua bến đò La Ca (Lacaze) hay Cầu Chữ Y là đến con đường Trần Hưng Đạo sầm uất. Nhưng do bị tách biệt khỏi nội thành bởi hai con kênh Tàu Hủ và Kinh đôi, nên dân cư, hầu hết xuất thân từ vùng ruộng đồng ở các tỉnh lân cận, có chút mặc cảm tự ti đặc thù của người nông dân chân chất. Do đó phụ huynh học sinh nói chung rất e ngại phải đến liên hệ với trường mà họ coi như một cơ quan công quyền. Ban ngày họ phải qua nội thành mưu sinh bằng đủ thứ nghề và chỉ về đến nhà vào buổi chiều tối. Còn một yếu tố xã hội nữa, số học sinh có khai sanh ghi tên cha “vô danh” chiếm một tỷ lệ khá lớn (# 30%), có nghĩa theo Bộ luật Gia đình thời bây giờ, các học sinh này là con sinh ngoài giá thú và được “mẹ đơn thân” nuôi dưỡng.

Biết được hoàn cảnh đặc biệt đó, khi có nhu cầu liên lạc với gia đình học sinh, các thầy cô hay nhân viên (giám thị) trường cố gắng tìm đến tận nhà phụ huynh hơn là mời họ đến trường. Đó thiết nghĩ cũng là đặc điểm của trường cộng đồng. Các thầy cô lúc ban đầu còn nhiều nhiệt tình và số học sinh cũng ít, nên việc liên lạc như thế cũng dễ dàng, sau này trở nên khó hơn khi trường phát triển. Mối quan hệ đó giúp cho trường hiểu được hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh, đồng thời cũng giúp cho công tác giáo dục học sinh, nhất là các em ở tuổi đệ Thất, đệ Lục, mang lại hiệu quả tốt, để làm cái nếp vững chắc cho những năm học kế tiếp.

5. Nhắc lại tấm gương vượt khó của một người thầy đầu tiên vắn số

Ban Giảng huấn của trường lúc ban đầu khá hùng hậu, gồm nhiều thành phần. Ngoài các thầy đang công tác trong CTPTQ8, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, đủ dạy tất cả các môn kể cả Hội họa và Âm nhạc, Bộ Giáo dục bổ nhiệm thầy Huỳnh Văn Truyền (Toán Lý Hóa), cô Nguyễn Thị Kim Phung (1934-1997) (Toán), cô Lưu Thúy Bình (Vạn vật) v.v,.. Bộ Giáo dục còn dành cho trường một biệt lệ là được phép tuyển dụng thêm các thầy cô có tinh thần cộng đồng.

Trong sô 3 thầy cô thuộc diện này, ngoài cô Lê Thị Bạch Vân và cô Lưu Ngọc Dung là người địa phương, đang học đại học, xin nhắc riêng thầy Lê Trung Tân như tấm gương vượt khó tuyệt vời cho nhiều thế hệ học sinh noi theo. Thầy xuất thân từ một miền quê nghèo ở Quảng Nam, đi học rất trễ, vào cấp 2 lúc 16 tuổi và phải đi bộ gần 10km mới tới trường. Lên cấp 3, được chuyển vào Trung họcTrần Quí Cáp ở Hội An, tuy học miễn phí, nhưng phải làm làm “gia sư” để có tiền ăn ở. Sau khi đậu tú tài loại giỏi, thầy vào Sài Gòn ghi danh học Đại học Kiến trúc. Thấy hoàn cảnh khó khăn của người học trò hiếu học, một ông thầy ở trường Trần Quí Cáp đã giới thiệu với người viết nhờ kiếm một việc làm bán thời gian để có điều kiện học đại học. Khi Ban Giám hiệu trường chấp thuận cho thầy Tân được dạy, người viết tìm đến báo tin vào ban đêm, gặp thầy đang ngụ dưới gầm cầu thang một tòa nhà bỏ hoang, trong khi chờ được nhận vào Đại học xá Minh Mạng và tạm thời làm phụ hồ để có chút thu nhập. Sau 7 năm vừa dạy học và đến giảng đường, thầy tốt nghiệp kiến trúc sư, rồi vượt qua kỳ thi tuyển làm giảng viên ĐH Kiến Trúc. Đến 1975, thầy được UBNDQ8 đưa về làm Trưởng phòng Xây dựng một thời gian, rồi bỏ ra lập Công ty riêng rất thành công. Tiếc rằng thầy Tân đã qua đời sớm do cơn bạo bệnh ở cái tuổi 63 (1943-2006) khi đạt đỉnh cao sự nghiệp. Thầy cũng là người đã đóng góp số tiền đầu tiên cho Quỹ Khuyến học Lương Văn Can, khi người viết vào thăm thầy lần cuối ở bệnh viện Triều An.

6. Nhà trường và thầy cô dành nhiều yêu thương cho lứa học sinh đầu tiên

Lứa học sinh năm học đầu tiên của THCĐQ8 như những đứa con đầu lòng của một gia đình mới ra riêng, phải chịu thiệt thòi vì thiếu thốn mọi bề, nhưng được cha mẹ dành cho nhiều yêu thương hơn hết. Cơ sở vật chất của trường còn nghèo nàn, các thầy cô, kể cả hiệu trưởng, có tuổi đời chưa đến 30 và tuổi nghề cũng chỉ dăm ba năm. Nhưng tất cả đêu đồng lòng đem hết tâm huyết cho công việc giáo dục các học sinh kém may mắn ở một địa phương nghèo. Bù lại, điều an ủi các thầy cô là các em đã thể hiện thứ tình nghĩa thầy trò hiếm thấy ở các trường trong nội thành.

Thông thường, hằng năm trước kỳ nghỉ hè, các trường trung học trên toàn miền nam tổ chức thi tuyển sinh vào lớp Đệ thất (tức lớp 6). Trong khi đó, kỳ thi tuyển vào Trường THCĐQ8 lại diễn ra vào tháng 9, nghĩa là sau 3 tháng nghỉ hè,
nên chất lượng bài làm không cao. Nói theo ngôn từ bây giờ, đầu vào của trường rất thấp so với các trường ở nội thành.

Vì thế trước tiên, các thầy cô cố gắng khơi dậy nơi các em tinh thần hiếu học (nghèo mà hiếu học) như con đường duy nhất để thoát nghèo và thăng tiến trong xã hội. Đồng thời trường tổ chức dạy thêm miễn phí cho các học sinh còn kém.
Ngày chủ nhật, nhà trường trở thành trung tâm cộng đồng với các sinh hoạt tập thể và các lớp học thêm. Nhờ đó mà sau 6 năm, đến kỳ thi tú tài I và tú tài II, kết quả tốt nghiệp tương đương với các trường khác, trong đó có nhiều học sinh đậu hạng bình như Trương Công Cứ, Phạm Văn Nhị v.v…, nghĩa là điểm trung bình 14/20. Và các học sinh lứa đầu cũng sẽ là nhân tố tạo nên truyền thống học tập và kỷ luật cho các lớp sau này.

Kết luận:

Quận 8 cũng như nhà trường ngày nay đã thay đổi rất nhiều, nhưng mái trường xưa vẫn luôn là nơi ấp ủ nhiều kỷ niệm tuổi học trò. 50 năm trôi qua, bộ mặt của Quận 8 cũng như của THCĐ năm xưa đã thay đổi nhiều, biết bao thế hệ học sinh ra trường, như những “cánh chim bay đi khắp mọi miền” và mỗi người có một cảnh ngộ riêng. Tuy nhiên, nếu như mỗi con người, dù muốn hay không, đều gắn liền với một cội nguồn trong suốt cuộc đời, thì mỗi cựu học sinh xuất thân từ mái trường THCĐ (sau này mang tên LVC) cũng không thể chối bỏ những chuổi ngày niên thiếu cắp sách đến trường. Người Tây phương có tên gọi mái trường xưa bằng một từ la-tinh rất thân thương là Alma Mater, viết tắt AM, có nghĩa bà “Mẹ Dịu hiền”, để nhắc nhở cựu học sinh về ngôi trường đã từng dạy dỗ giáo dục mình như người mẹ từng nuôi dưỡng mình.

Cũng trong thời gian dài nửa thế kỷ, nhiều lớp thầy cô đã cống hiến một phần đời mình cho công việc thầm lặng là giáo dục con em nên người ở một địa phương nghèo. Có nhiều thầy cô đã ra đi từ giả cõi đời, có người nay đã ở tuổi xế chiều… vẫn luôn coi thời gian ở mái trường THCĐ như một cơ duyên gặp gỡ đầy ý nghĩa.

Riêng người viết, mỗi lần nghĩ về các lớp học sinh buổi ban đâu, luôn cảm nhận nhờ tình nghĩa thầy trò gắn bó, mà mình đã vượt qua được bao biến đổi của cuộc sống để tồn tại. Xin cảm ơn Người, tạ ơn Đời và tạ ơn Trời../.

HỒ CÔNG HƯNG
_____________________________

(1) Ví dụ: Năm 1963, nhân sĩ Hồ Đắc Thăng xin phép mở trung học tư thục ở Bà Rịa mang tên Trương Vĩnh Ký. Nhưng ở Sài Gòn đã có trường công lập TVK (còn gọi là Petrus Ký) thành lập 1927 nên trường tư thục mới ở Bà Rịa phải lấy tên Sĩ Tải là hiệu của TVK. Cũng như ở Sài Gòn trước đây có trung học tư thục phải lấy hiệu Phan Sào Nam, vì đã có Trường TH công lập Phan Bội Châu ở Phan Thiết (1962). Theo hiểu biết của người viết, truyền thống đặt tên cho trường trung học này là kế thừa của Bộ Giáo dục Pháp áp dụng cho toàn quốc và vùng thuộc địa, vẫn còn giữ cho đến ngày nay.
Năm 1967, có thêm Trung học Cộng đồng Quận 6 ở gốc Phạm Đình Hổ, Lê Quang Sung, Quận 6.

(2) Sau năm 1975, chính quyền mới sát nhập lquận 7 vào quận 8 bao gồm thêm các phường 7 (Hàng Thái và Bến Đá), 14 (Cây Sung), 15 (Bình Đông) và 16 (Rạch Cát và Phú Định)

(3) Dân địa phương còn chon người chết hai bên bờ con đường mòn này. Người viết từng đi đưa đám tang một phu huynh học sinh tên Bảy chôn ở đây.





Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn