Tiếng Việt
Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
425,172

TỪ NƠI XA NHỚ VỀ TRƯỜNG CŨ

25 Tháng Mười 201612:00 SA(Xem: 2282)


TỪ NƠI XA NHỚ VỀ TRƯỜNG CŨ


Chúng tôi là :

 - Võ Đình Hiệp, và vợ là Vương Thị Năm, từ Nam Cali

 - Mai Viết Khắc, và vợ là Nguyễn Thị Tùng, từ Boston, Massachusetts

 - Nguyễn Hoài Tân, và vợ là Nguyễn Thị Tõ, từ Tampa, Florida

 - Hồ Ngọc Thanh, và vợ là Quách Thu Hằng, từ Houston, Tesax

 H O A K Ỳ

 hoa_hong

Kính gửi về : _ Thầy Hiệu Trưởng Uông Đại Bằng,

 _ Quý thầy cô,

 _ Quý bạn trong BAN LIÊN LẠC Cưu Học Sinh, cùng quý bạn cựu học sinh

 và học sinh Trường Lương Văn Can Quận 8, Sài Gòn..


 Đọc thư ngỏ của thầy Hiệu Trưởng Uông Đại Bằng, được biết trong những ngày đầu tháng 11 nầy, các bạn sẽ tổ chức mừng 50 năm ngày sinh của Trường. Từ nơi xa chúng tôi xin gửi về quý bạn vài kỷ niệm của những ngày đầu ngôi trường được thai nghén..

Mới đó mà đã 50 năm hơn, nửa thế kỷ, một đời người .

Đời người có những khúc quanh không sao nhớ hết mọi nẻo, có khi còn quên đi gần hết. Nhưng đối với chúng tôi hình ảnh ngôi trường từng ngày mọc lên là không thể nào quên.

Đó cũng là ngôi trường đã từng hằng ngày chứng kiến một khoảng đời sôi nổi nhất của nhóm trên dưới 30 thầy và trò chúng tôi, tất cả đều ở tuổi thanh niên. Thầy: đa số là dưới 30. Trò: tất cả đều dưới 18-20..

Cái tuổi được gọi là đẹp nhất và phải được làm cho đẹp nhất..

Cả bốn anh em chúng tôi có thói quen, gần như thường lệ từ vài chục năm nay, ngoài những dịp dựng vợ gả chồng cho con cái, cứ đúng kỳ, không hàng năm thì cũng đúng hạn vài năm, phải gặp nhau một lần để đỡ nhớ nhau, và để nhớ về những ngày cũ luôn có nhau ở quê nhà Quận 8. Với những câu chuyên chung nhau vào đời cứ lập đi lập lai hoài, cho đến bây giờ đã trên dưới 70 tuổi đời mà không thấy chán,

Những chuyện về một ngôi trường rất gần ngôi trường của các bạn. Một ngôi trường không có phòng lớp cố định, không bục giảng, không sách vở, ở giữa trời, ở giữa đời, ở giữa người.

Chúng tôi không học cùng trường với các bạn, cũng không học cùng trường với nhau trước khi về Quận 8, nhưng những người thầy đã dạy chúng tôi nên người từ ngôi trường nói trên cũng từng nằm trong số nhũng người thầy đã dạy các bạn.

Trường của chúng tôi có hai bậc: bậc một là PHONG TRÀO HỌC ĐƯỜNG PHỤC VỤ XÃ HỘI, bậc hai là CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8 Sài Gòn..

Nhớ lại hồi những năm 64-65, giữa lúc chiến tranh đang bùng phát dữ dội, nhóm trên dưới 10 anh em chúng tôi đang theo học ở những trường Trung học khác nhau, như Petrus Ký, Chu văn An, Võ trường Toản, Nguyễn thượng Hiền, Trịnh Hoài Đức ( Bình Dương ), hay như trường Kỷ thuật Cao Thắng…Nhiều bạn đã xong Tú tài I,có bạn vừa xong lớp Đệ Tam. Sau khi tham gia vài trại Hè do các thầy thuộc Phong Trào Sinh Hoạt Hè, (như các thầy Hoàng Ngọc Tuệ, Đỗ Ngọc Yến , Hà Tường Cát…) tổ chức, đã hè nhau tham gia PHONG TRÀO HỌC ĐƯỜNG PHỤC VỤ XÃ HỘI , có trụ sở ở sồ 27-29 đường Bùi Quang Chiêu Quận 2 Sài Gòn .

Để làm gì ?

Tất nhiên là để phục vụ xã hội. Nhưng chủ yếu là để xây dựng hay đúng hơn là tu sửa các trường lớp ở các vùng nghèo thuộc các tình. Có khi chỉ là làm lại một nhà chơi hay nâng cấp một nhà vệ sinh..

Để rồi cũng theo tiếng gọi của một số thầy, một số anh em, trong đó có bốn đứa chúng tôi đã theo về CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8 SAIGON.

Vì PHONG TRÀO HỌC ĐƯỜNG PHỤC VỤ XÃ HỘI, ( cũng như Phong Tráo Sinh Hoạt Hè ) thường chỉ hoạt động ngắn hạn trong dịp Hè, nên chúng tôi không sao nhớ hết các bạn đã tham gia. Và về các thầy thì chúng tôi cũng chỉ nhớ có thầy Đỗ Quý Toàn,và cô Hà Dương Thị Quyên, với các thầy Đỗ Anh Tài, Hoàng Ngọc Tuệ, Nguyễn văn Phùng, Trần Đại Lôc,, Trần Viết Ngạc… ngoài số các thầy sau nầy đã về Quận 8 để thành lập CTPTQ8 mà các bạn hẵn đã biết.

Trong khi Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội là một chương trình lưu động nhầm hổ trợ tạo dựng các cơ sở học tập cho các trẻ em nghèo ở các tỉnh, thì Chương trình Phát triển Quận 8 là một chương trình hoạt động cố định, bám sát một địa phương, giữa lòng đồng bào nghẻo khổ, với nhiều hoạt động đa dạng, nhằm đáp ứng những nhu cầu bức thiết hằng ngày. Như nước sạch, điện thấp sáng, như cống rảnh câu đường.trường học, như giúp tổ chức phương tiện mưu sinh, hay như sinh hoạt văn hóa, tinh thần, truyền thống….Với phương thức PHÁT TRIỂN CỘNG ĐÔNG, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con lao động nghèo.

Có thể kể ra nhiều việc cụ thể, mà nhiều nhất là ngồi lai thảo luận vời bà con, có khi thâu đêm, để tìm từng giải pháp thích hợp cho từng việc. Như làm cầu bằng bê tong để thay các cầu ván, hay để thay một con đò, như con đò qua kênh Tàu Hủ hay rạch Ụ Cây.. Để đi từ Xóm Đầm Phường Hưng Phú qua chợ Xóm Củi, các bạn bây giờ cứ lái xe Honda bon bon từ phường nầy đến phường khác. Nhưng ngày xưa, bà con gồng gánh đi làm ăn hay trẻ em đi học, đều phải “lụy đò” để qua kênh Tàu Hũ. Về sau thì dễ thở hơn nhờ có cây cầu Phát Triển, mà bà con còn gọi là cây cầu “nhún”. Đó là để nhớ lại lúc đóng cọc xuống lòng kênh để làm cầu, bà con đã bắt sà ngang trên đầu cọc để nhiều người có thể đứng lên mà hè nhau “nhún”, cho tới khi nào cọc không xuống được nữa thì coi như đạt yêu cầu. Ai bày đặt cái kiểu làm cầu nhún nầy ? Không ai khác hơn là bà con cư dân tại chỗ.

Rồi nạo vét kênh rạch để tránh ngập ún vào mùa mưa, như vét rạch Ông Buông bên Quận 6. Đây là một công việc rất cần huy động hầu hết lực lượng thầy trò chúng tôi và thanh niên địa phương; Bởi dòng kênh đen ngòm ngập đầy rác rến và đủ thứ vật liệu phế thải, kể cả chai lọ, miểng kiếng, miểng sành, da bò, kẻm gai, sắt vụn… tích lủy không biết từ hồi nào khiến lòng kênh chỉ còn là một rảnh nhỏ vô cùng ô uế và nguy hiểm.. Phải với khí thế ra quân hừng hực, nhưng cũng phải hết sức cẩn thận, thì mới cả gan mò xuống vét rach với quần đùi tay không…

Rồi làm đường, chủ yếu là đường hẻm. Vừa làm vừa cãi tạo hẻm, cố sửa cho ngay, cho rộng, tối thiểu cũng để cho một chiếc xe lam ba bánh kéo được ống nước vào sâu trong hẻm để chửa cháy khi cần, vừa vận động bà con thỏa thuận không lấn hẻm, hay không làm gì, như bửa củi trên nền hẻm sẽ làm hư hẻm. Bởi hẻm là hệ thống giao thông huyết mạch ở Phường Khóm trong khi đường lộ ở các quận ven biên lại rất hiếm . Như ở Phường Chánh Hưng, toàn Phường chỉ có một con đườngChánh Hưng chạy dọc bờ Kênh Đôi từ cầu chữ Y đến cầu Nhị Thiên Đường..Phương tiện đi lại giữa các Khóm là Hẻm, thường tự phát theo nhu cầu của bà con, và thường là quanh co, hư hỏng, lầy lội .Phường Bình An cũng vậy. Hay như Phường Hưng Phú, tuy có khá hơn bên Chánh Hưng, với con đường Hưng Phú chạy từ cầu chữ Y đến Xóm Đầm, còn có Bến Nguyễn Duy chạy dọc bên nầy bờ Kênh Đôi cho đến Phường Xóm Củi, mà kín mít nhiều dãy nhà tạm bợ của bà con chạy giặc từ các tỉnh., và Bến Ba Đình chạy dọc từng khúc bờ kênh Tàu Hủ phía Quận 8. Ngoài ra Chương Trình còn cùng bà con làm hồ chứa nước sạch dọc các Khóm, bởi nước máy ở đây là rất hiếm, mà đóng giếng thì bị nhiểm mặn, dù đóng sâu cách mấy…

Nói chung là cái gì có ích cho dân là đều làm, theo yêu cầu bức thiết nhất của bà con.

Kể cả làm lại các đình đã có từ thời còn các làng cũ do các bô lão yêu cầu vì không có phương tiện tu bỗ. Hay tổ chức các hợp tác xã sản xuất, mua bán, đánh bắt cá hay tiệu thụ…Hay giúp tổ chúc nền nếp và phương tiện cho các đám tang ma nhà nghèo, hay tổ chức phòng dịch bệnh cho trẻ em . Và cho cả heo nuôi, mặc dù có khi gặp phải phản ứng bất thường của một số trẻ em chủ nhà sợ heo bị chích chết…Riêng tổ chức y tế, vì không khả năng thành lập bệnh viện nên phải tổ chức các đoàn y tế lưu đông, đưa phương tiện chửa bệnh tạm thời đến bà con bằng …xe lam ba bánh. Hay tổ chức sinh hoạt thiếu nhi, lúc đầu là tự phát, ở đâu có công tác phát triển cộng đồng là có sinh hoạt thiếu nhi tại chỗ, dần dần trở thành nền nếp với một số anh em chúng tôi được biệt phái đến sinh hoạt với các trường tiểu học trong Quận.Và tổ chức công tác thông tin: theo đà phát triển, những thông tin cần thiết các loại ngày càng nhiều trong công đồng khiến phải có một tờ báo nội bộ đánh máy quay rô nê ô ra định kỳ, mà anh bạn Tống Văn Cư đã quá cố ( tử trận ) của chúng tôi là “thư ký tòa soạn”, và hai thầy Hồ Công Hưng, Nguyễn ngọc Thạch, thay nhau làm “chủ bút”, ngoài một số nhiệm vụ khác ở Chương Trinh, và cả ở trường THCĐQ8 mà hai thầy phải đảm trách. 

Chỉ có làm ra điện để thay thế dòng điện thành phố thường bị tắt hay lúc tỏ lúc lu cho các lớp dạy nghề ban đêm cho thanh niên hay phụ nữ là không làm được, nhiều khi phải dùng đèn cầy hay đèn măng- song.

Nhưng nhiếu nhất vẫn là sinh hoạt với các giới đồng bào, với các cụ bô lão, với phụ nữ, thanh thiếu niên hay với các nhà tôn giáo.Để cùng nhau tìm biện pháp giải quyết các nhu cầu sinh tử của bà con , và gìn giữ bão toàn các thành quả đã khó khăn tạo được.

Số lượng công việc cụ thể các loại có thể kể ra nhiếu, sau mấy năm hoạt động, nhưng thật sự không thấm vào đâu so với nhu cầu nhiều mặt của bà con, và cho đến nay thì chắc cũng không còn lại bao nhiêu dấu vết.

Bởi số lượng cả thầy và trò chúng tôi không nhiều. So với địa bàn Quận 8, so với số dân cư thì như muối bỏ biển.

Dân cư thì chúng tôi không nhớ là bao nhiêu, nhưng phần lớn là gồm dân nghèo chạy nạn chiến tranh, cộng một số bà con di cư từ Miền Bắc năm 1954. Về địa bàn thì toàn thể quận 8 lúc bấy giờ chia ra 5 Phường : Phường Xóm Củi, nơi có Tòa Hành chánh Quận 8 ở số 144 đường Tùng Thiện Vương ,( và tòa nhà công vụ của Quận Trưởng cũng đồng thời là trụ sở CTPTQ8 và là nơi ăn ở sinh hoạt của thầy trò chúng tôi khi đi về từ các phường khóm, nơi làm việc thì ở dưới đất, còn trên lầu thì mỗi người chúng tôi có sẵn một chiếc ghề bố ), Phường Bình An ( với đa số bà con di cư từ năm 1954, với những họ đạo của cha Hoàng Quỳnh ) giáp,với Quận 7 cũ và rạch Bà Tàng; Phường Chánh Hưng, nơi có Sở rác Đô Thành, giáp với vùng Cần Đước Cần Giuộc Long An; Phường Rạch Ông, nơi có trại Tế Bần tập trung các trẻ lang thang bụi đời “thu gôm” được của toàn Thành phố ; Phường Hưng Phú, nơi có Lò Heo Đô Thành, giáp với cầu chữ Y, còn gọi là lò heo Chánh Hưng , ( tiền thân của lò sát sinh VIssan sau nầy.),

Hệ thống tổ chức hành chánh cấp dưới Phường là Khóm. Nhưng ngày nay các Khóm đã thành Phường. Tổng số là bao nhiêu chúng tôi không nắm..

Tất cả anh em chúng tôi đều là tay mơ đối với toàn bộ công tác phát triển cộng đồng. Và có lẽ các thầy chúng tôi cũng vậy Mà người nào cũng có vai trò nhiệm vụ riêng trong hệ thống tổ chức của Chương Trình Phát Triển. Thầy Hồ văn Minh là Quản Lý Chương Trinh, kiêm đặc trách tổ chức Y tế công cộng.Thầy Đoàn Thanh Liêm là Phó Quản lý Chương Trình, kiêm công tác ngoại giao.Thầy Hồ ngọc Nhuận là Quận Trưởng hành chánh Quận 8, kiêm vận đông tổ chức quần chúng.Thầy Mai Như Mạnh là Phụ tá Quận Trưởng, kiêm Hành chánh quản trị Chương Trình. ( Chức vụ Phụ tá Quận trưởng là một yêu cầu đặc biêt riêng chỉ có ở Quận 8, trong khi chức Phó Quận Trưởng cũ vẫn được giữ nguyên như ở các Quận khác ở Đô Thành. Phó Quận trưởng cũ được giữ lại ở Quận 8 là ông Lê văn Tánh. Cùng với ông Tổng Thư Ký Tòa Hành chánh Quận là ông Trương văn Đẩu, một chức vụ ít khi thay đổi ở các Tòa Hành Chánh Quận và Tỉnh dưới chế độ VNCH . Đây có lẽ là vì ông Quận trưởng mới, thầy Hồ ngọc Nhuận, là một thầy giáo tư thục , vừa là một thiếu úy bộ binh trừ bị còn non choẹt, trong khi thầy Mai Như Mạnh, tuy cũng còn trẻ như nhau, nhưng đã từng tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh. Đây cò lẽ cũng là lý do đã khiến cho chánh quyền Đô Thành đã bổ nhiệm ông cựu Quận trưởng Quận 8,vừa được thay thế, làm cố vấn cho ông Quận trưởng mới _ một chức vụ cũng duy nhất có chẳng những ở Đô Thành mà còn ở cả nước. Để rồi hàng ngày ông cố vấn đi xuống Phường xuống Khóm “coi mấy th…con nít ” chúng nó làm gì, theo lời ông nói với nhân viên hành chánh và bà con địa phương. _ Chức cố vấn quân trưởng và việc “đi thăm dân “ của ông cố vân quận trưởng Quận 8 không kéo dài bao lâu, theo đà nhân rộng Chương Trinh Phát Triển sang các quận khác ).

Tất cả các thầy còn lại, được tăng cường nhiều đợt,, như các thầy Nguyễn Phúc Khánh, Uông Đại Bằng, Hồ Công Hưng, Nguyễn Đức Tuyên, Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn văn Mừng, Dương văn Long, Võ Văn Bé, và các anh Đặng Kỳ Trân, Lê Xuân Tảng, Đặng Di Hùng, Trần hữu Lộc, Đào Quốc Chính, Nguyễn Ngọc Phan, Lê Minh Đức, Phạm Duy Tuệ … ai nấy đều được phân công chia nhau đi phát triển khóm phường, và đặc biệt chăm lo cho ngôi trường TRUNG HỌC CỘNG ĐỒNG QUẬN 8 thân yêu đang được thai nghén, hình thành.

Về phía anh em chúng tôi thì cũng được tăng cường mấy đợt..Ở đợt đầu tiên, ngoài bốn anh em chúng tôi còn có các bạn Huỳnh văn Ngươn, Mai Viết Phương, Lường văn Tròn, Từ Thanh Sơn, Tống văn Cư, Nguyễn minh Tuyền.Kế đến là các bạn Vương thị Năm, Nguyễn thị Tùng, bạn Tuyết ở Xóm Đầm, Nguyễn văn Mạnh, Nguyễn văn Khỏe ( Mạnh Khỏe là hai em trai của bạn Tùng ),Bùi Kỳ Trân, Đoàn Quốc Thông, Nguyễn Định Tường, Nguyển văn Bãy, Nguyễn văn Tư, Trần thành Tâm, Nguyễn văn Tâm, Lê Tấn Đức, Võ văn Vân, Nguyễn thị Xuyến, Nguyễn thị Út,Nguyễn văn Phương , Ngô Kim Cúc, Hồ kim Hoàng tự Thắng, bạn Mười cô giáo dạy nữ công ( sau nầy là vợ của Từ Thanh Sơn ), bạn Hồ thị Mỹ Quang( cùng dạy nữ công với chị Mười ở Hưng Phú ), bạn Trương Hà Mỹ ở Quận 6, bạn Trương Tấn Lực, anh Nguyễn văn Hè…

Nhưng cũng không được bao lâu thì phải “tách đàn”, chia nhau đi gánh vác công việc phát triển các quận khác.. Như thấy Đoàn Thanh Liêm được phân công sang làm Quản Lý Chương Trình Phát Tiển Quận 6, và thầy Mai như Mạnh làm Quận Trưởng. Hay như thầy Nguyễn Đức Tuyên, thầy Võ văn Bé, thầy Nguyễn Phúc Khánh thì được cử sang đắc trách xây dựng rồi điều hành trường TRUNG HỌC CỘNG ĐỒNG QUẬN 6, và hai anh Đặng Kỳ Trân,Đặng Di Hùng thì sang đặc trách CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 7 cũ.

Và tình hình nhân số chúng tôi như “muối bỏ biển” ở Quận 8, rồi ở Quận 6 và Quận 7, vẫn trở lại như cũ. Mặc dù đã có thêm một số huynh trưởng đã lớn tuổi, là đàn anh, đàn chú, đã có việc làm ổn định …tuần tự về tăng cường, như bác Trần văn Ngươn, còn gọi là bác Ngươn già, để phân biệt với Huỳnh văn Nguơn trẻ của chúng tôi. Hay như anh 5 Tảng, sau nầy từng là nghị viên Đô Thành, anh Nguyễn văn Bọt, anh Lương văn Cậy, anh Đạng Di Hùng, Đặng Kỳ Trân…Các huynh trưởng nầy đều thọ trên 80 hoặc gần 90 tuổi khi qua đời cách đây vài năm. Riêng bác Trần văn Ngươn thì mới mất sau Tết vừa qua, thọ 102 tuổi. Ngoài ra chúng tôi còn được sự hợp tác đắc lực quý báu và gần như thường trực của nhiều vị bô lão, nhiều vị hão tâm ở địa phương , như cụ Vương Kim, ở khu Chuồng bò, cụ Lê Văn Chánh, anh Trương tấn Lộc ở Hưng Phú, anh Nguyễn văn Thơ ở Xóm Đầm, anh Ba Lăng ở khu 14-15 Hưng Phú, hay như vợ chồng anh Phi Long ở khóm 5A Chánh Hưng, hay như anh Trần kim Hoa, bác Trương Ký ở Xóm Củi… và nhiều vị hão tâm khác.Riêng hai anh Thơ và Lộc sau nầy đã được chánh quyền Đô Thành mời ra làm Phường Trưởng..

Nhưng trong toàn bộ các công tác cụ thể của chúng tôi ở Quận 8 thời đó, có một công tác mà chúng tôi “buộc’ phải nhớ nhiều nhất, vì quy mô lớn nhất, vì thời gian công tác vừa dài vừa thúc bách nhất,, vì đặc trưng hoàn toàn “không giống ai”, hoàn toàn mới mẻ, lạ lẵm, không gặp được tiền lệ ở đâu, có thể nói là khá táo bạo so với vốn kinh nghiệm tuổi đời của chúng tôi lúc bấy giờ, lại gần như tập trung toàn bộ các vấn đề cốt tử phải giải quyết gần như cùng lúc ở một quận ven biên Đô Thành giữa một thời loạn lạc. Và nhất là vì có mối quan hệ trực tiếp đến việc cho ra đời ngôi trường TRUNG HỌC CỘNG CỒNG QUẬN 8 LƯƠNG VĂN CAN thân yêu ngày nay..

Đó là việc chỉnh trang tái thiết khu nghĩa địa ở Khóm 14-15 Phường Hưng Phú, và khu nghĩa địa cùng với Sở rác Đô thành ở Khóm 5A Phường Chánh Hưng.

Tưởng cũng nên nhắc lại những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, giữa lúc cuộc chiến tranh đang leo thang cao nhất, các quận ven biên Đô Thành Sài Gòn là nơi thu hút,, tập trung phần lớn bà con tỵ nạn từ các tỉnh chung quanh, kể cả các tỉnh miền Trung..

Đặc biệt ở Quận 8, với nhiều kênh rạch, bà con tỵ nạn thường đổ về trên những chiếc ghe gia đình, sống sán sát dọc các bờ kênh rạch. Ghe nát thì lên bờ chen nhau dựng lều nhiếu lớp hai bên bờ kênh. Khi hết chỗ chen thì đi tìm đất sống chung với người chết trong các nghĩa địa .Ở Quận 8 có hai nghĩa địa bị bỏ hoang không biết từ thời nào, một ở Khóm 14-15 Phường Hưng Phú, một ở Khóm 5A Phường Chánh Hưng..Đặc biệt ở Khóm 5 A lại có thêm khu Sở rác, nơi tập trung toàn bộ rác thãi của Đô Thành Sài Gòn.

Chiếm nghĩa trang và chiếm bờ kênh là chiếm ngụ bất hợp pháp và phải bị giải tỏa. Ông Quận trưởng Quận 8 hằng ngày, và liên tục ngày nầy qua ngày khác phải tống đạt lệnh giải tỏa của chính quyến Đô thành đến bà con cư ngụ bất hơp pháp. Nhưng cả hai đàng, đàng đi đuổi và đàng bị đuổi đều tiến thoái lưỡng nan. Đàng bị đuổi thì đây là bước đường cùng, không biết đi đâu, ở đâu nên mới nương nhau sống trên các nấm mồ hay bãi rác, hay phải chân bờ chân nước dọc các kênh rạch. Còn đàng đi đuổi thì không đủ người đủ sức để hết đợt nầy đến đợt khác tống đạt lệnh đuổi nhà đến dòng người tỵ nạn không ngớt kéo đến ngày nầy qua ngày khác..

Chúng tôi đã từng chứng kiến các thầy cùng bà con tỵ nạn trãi qua nhiều ngày đêm, đúng ra là nhiếu đêm liền, vì ban ngày phải lo kiếm sống hay lo công tác, thảo luận liên miên để tìm ra giải pháp ổn định cuộc sồng cho mọi người. Nhưng đều vô kế khả thi. Không lẽ lại cho đổ rác bừa lên các mồ mả, rồi chờ cho rác dẽ xuống để chỉnh trang xây dựng nhà cửa ? Dù là mồ mả hoang nhưng xưa nay không ai làm vậy.

Bỗng một ngày, do sự vận đông và do các bạn bè của các thầy giúp đở, một chiếc tàu xáng của Sở Hàng Hà thuộc Bô Công Chánh, trên đường được phân công đi thổi đất san lấp ở một vùng nào đó, đã được lệnh tạt ngang giữa dòng kênh Đôi, thổi đất giúp Chương Trình Phát Triển Quận 8 một tuần lễ.

Thật đáng mừng, nhưng cũng không hẵn hết lo. Chỉ với một khu như khu 14-15 Hưng Phú, hay như khu 5A, cả đội xáng cũng phải làm việc liên tục cả tháng chưa chắc đã xong. Mà ở đây lại có tới hai khu, và chỉ có một tuần để hoàn thành công tác. Hai khu nghĩa trang lại nằm ở hai bờ kênh khác nhau, lại không nằm sát bờ mà thụt vào giữa lòng phường khóm, sau mấy lớp nhà . Để thổi đất từ lòng kênh vào tận nơi, phải liên tục dời ống, nối ồng, canh nước, be bờ, giữ đất. Để đất không theo nước vào nhà dân chung quanh, hay tràn đi nơi khác.. Lại phải cấm cọc, cấm cờ làm dấu trên các mộ, khi cả khu nghĩa địa bị tràn ngập.

Cả đội xáng có bao nhiêu người chúng tôi không nhớ, nhưng riêng anh em Chương Trình chúng tôi thì tập trung toàn bộ cũng không quá vài mươi người, bởi không thể bỏ dỡ các công tác khác trên địa bàn các phường khóm khác.. Vậy mà mọi người đã vượt qua thách đố một cách khá vẽ vang. Nhờ lòng dân, sức dân là chính. Hết làm ngày thì đốt đuốc làm đêm, khí thế hừng hực, ánh đuốc đỏ rực cả một góc trời.Cả bà con cư dân hai khu nghĩa địa, cả anh em tàu xáng, cả thầy trò anh em Chương Trình chúng tôi, tất cả như hòa thành một đội thống nhất, nhịp nhàng ngày đêm thay nhau trong từng công đoạn : tiếp tay chạy máy xáng, dời ống nối ống xáng, be bờ, cấm móc, giữ mộ, giữ nước, nối đuốc giữ đuốc, kể cả phân công canh giữ các “chiến lợi phẩm,” được xáng thổi lên từ lòng kênh, không để lọt, để sót, dù là lươn , hay trê, hay chạch, hay con sò con ốc…để tăng cường bữa ăn cho “công trường”.

Nhờ vậy chúng tôi đã vượt qua thách đố, hoàn thành san lấp hai khu nghĩa địa để trả Xáng về đúng hạn cho nhà nước . Và để chuyển sang giai đoạn mới, bốc mộ, cãi táng hài cốt , lập miếu thờ tập thể những người quá cố vô danh đã nhường đất cho người sống. Và đi vào chỉnh trang xây dựng nhà cửa cho dân cư hai khu nghĩa địa..

Đây cũng là một việc làm hoàn toàn mới mẻ và khá phức tạp đối với chúng tôi. Bà con ai cũng muốn sớm được hưởng thành quả những công khó của mình, gầy dựng lại căn nhà mơ ước , ổn định chỗ ở và cuộc sống tạm bợ đã quá kéo dài. Và nhất là không bị giải tỏa dời đi nơi khác..

Một chuổi công việc mới lại bắt đầu. Từ việc dựng nhà tạm trú cho bà con , đến việc đo đạt thiết kế phân lô cấp nền và khởi công xây dựng nhà cửa.. Để rồi cả hai công trình chỉnh trang từ từ mọc lên như thổi, cùng với sức dân và lòng dân phơi phới dâng cao.. Mọi người, kể cả phụ nữ, thiếu niên từ tay ngang trở thành thợ xây các loại, không thợ chánh thì cũng thợ phụ. Và anh em chúng tôi cũng từ tay học trò trở thành “chuyên viên” các loại, đo đạc, thiết kế, công trình…

Để tránh nạn tự phát, lấn chiếm sẽ biến dần khu chỉnh trang thành khu ổ chuột mới, với số vật liệu căn bản là xi măng và sắt thép do các nhà hão tâm quyên tặng. CTPT đã quyết địng trợ cấp cho mỗi nhà đồng bào một khuôn nền và một hệ thống cột bê tong xây cố định, theo bản đồ thiết kế định sẵn cho từng dãy phố tương lại và cho toàn khu., sau khi đã chừa ra các trục đường , các khoảnh đất dành cho các công viên hay các công trình tiện ích công công.Như vậy là không ai có thể tranh giành hay tự ý dời đổi được. Riêng ở Khu 5A thì có thêm một số sườn nhà bằng thép lấp ghép, do CTPT vận động được từ Nhà Thờ Công Giáo ở CHLB ĐỨC.

Việc hổ trợ khung nền nhà bằng bê tong cố định cho bà con tỵ nạn ở hai khu chỉnh trang 14-15 Hung Phú và 5A Chánh Hưng về sau đã trở thành khuôn mẫu cho việc chỉnh trang tái thết các khu hỏa hoạn hay các khu bị cuộc đột kích Tết Mậu Thân (1968 ) tàn phá, như khu Chuồng Bò Hưng Phú, Khu Bình Tiên Quận 6, hay như khu Cầu Tre Quận 11.

Đặc biệt việc chỉnh trang ở Khóm 5A, cùng với việc bốc mộ ở khu nghĩa địa, và ủi dọn rác ở sở rác Đô Thành, ngoài việc giúp ổn định chỗ ở cho bà con tỵ nạn, còn “thưởng” thêm cho CTPT hai diện tích đất khá lớn, một là để xây dựng Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 8, và một là để tái định cư đồng bào công giáo thuộc họ đạo của cha Nhân, được gọi là khu Nam Hải, do yêu cầu của Tòa Đô Chánh..

 Về việc xây dựng trường TRUNG HỌC CỘNG ĐỒNG QUẬN 8, cụ thể chúng tôi không nhớ được gì nhiếu, ngoài một số việc lúc ban đầu , như là thay phiên nhau lái xe ủi rác. Và việc sau cùng là đi làm giám thị kỳ thi tuyển học sinh lớp Đệ Thất khóa học đầu tiên 1966-1967 của Trường, được tổ chức tại trường Tiêu học Xóm Củi. Bởi việc xây dựng Trường THCĐQ8, về hình thức cũng như nội dung, là một công trình mà chính các thầy phải trực tiếp đảm trách,. Trong đó có thấy Nguyễn Phúc Khánh, vốn dạy Toán ở trường Quốc gia Nghĩa tử, nhưng lại nổi tiếng là một “kiến trúc sư dân bầu”, từ ngày xây dựng ký nhi viện Hưng Phú, rồi trường THCĐQ8, rồi trường THCĐQ6,v.v…

Không nhớ được nhiều, nhưng chúng tôi đã học được rất nhiều điều .

Đó là tình nghĩa anh em, thầy trò cùng sống chan hòa với nhau , như cùng một gia đình. Và có lẽ còn hơn cả một gia đình nhờ vào một lý tưởng chung và vào những gì đã đồng cam cộng khổ để thực hiện. Trong tinh thần nghèo khó, khiêm tốn, lương thiện, bất vụ lợi, và tôn trọng của công, luôn được nâng cao nhờ vào tuổi trẻ, sức trẻ của cả thầy lẫn trò. .

Đó là lòng dân và sức dân, những người dân đã từng trãi qua nhiều gian khó và tích lủy nhiều hiểu biết dân gian thực tế, đã cùng CTPT tìm ra những câu trả lời cho hầu hết các vấn đề về dân sinh dân trí bức bách được đặt ra..

Đó là tính tổ chức . Ngoài các tổ chức tương trợ hay hợp tác xã các loại như đã nói ở trên, khi tiến hành công tác phát triển tới đâu, CTPT đều tổ chức bộ máy công cụ dân chủ điều hành quản lý tới đó. Để lấy ý kiến và quyết định tập thể về những lợi ích cần làm trong Khóm, CTPT đã tiến hành tổ chức để dân bầu ra các HỘI ĐỒNG PHÁT TRIỂN KHÓM. Khi chuẩn bị tiến hành xây dựng một công trình cụ thể, như một cây cầu hay một con hẻm,, bà con tại chỗ tiến hành bầu chọn một ỦY BAN NHÂN DÂN để điều hành quản lý dự án..Khi một con hẻm đã hoàn thành bà con luôn hình thành một “HẺM ƯỚC” , trong đó quy định những điều kết ước tự nguyện, tóm gọn mà đầy đủ của toàn thể bà con sử dụng hẻm. Như : giữ gìn hẻm sạch sẻ, an toàn, không đổ nước, rác, đất đá lên hẻm, không sử dụng phơi phong bừa bãi, không lấn chiếm,, và sẵn sàng đóng góp tu sửa định kỳ, v.v

Đó là tình công khai minh bạch về tất cả các mặt , đặc biệt về mặt tài chánh, về sức người, sức của… 

Và trên hết có lẽ là những bài học …ở đời . Từ ghế nhà trường bước ra, trong những năm tháng mới vào đời, CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN QUẬN 8 đã cho chúng tôi một môi trường sống khá đặc biệt, cùng sống với nhau và cùng sống với đồng bào, với nhiều thiếu thốn khó khăn thách đố phải vượt qua để xây dựng quê hương và xây dựng chính mình.Sau khi rời khỏi CHƯƠNG TRÌNH, trãi qua nhiều giai đoạn thử thách khác nhau, đi học lại, rồi đi lính, rồi đi học tập cãi tạo, rồi di tãn, rồi định cư làm lại cuộc đời nơi xứ lạ, cả bốn anh em chúng tôi, với người bạn đời là người địa phương Quận 8, hoặc cùng công tác ở CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIÊN, nay đã trên dưới 70, đã có cháu nội cháu ngoại, Nhưng trong bất cứ giai đoạn nào, với những khó khăn thách đố tưởng chùng không vượt qua nổi, chúng tôi đều nhớ đến nhau và nhớ đến những ngày gian khó mà thật hạnh phúc ỏ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN..

Và luôn nhớ đến những anh chị em hằng lâu không gặp. Và nhất là bùi ngùi nhớ đến các bạn, các anh đã mất, đặc biệt là mất ngoài mặt trận, như Tống văn Cư, Lương văn Tròn, Nguyễn văn Tư, Nguyễn văn Bãy, Nguyễn Định Tường . Với những dòng nầy, chúng tôi hy vọng những người anh em, dù đang ở đâu, và quý thầy, sẽ bổ sung cho những điều còn thiếu sót, nhất là về các bạn còn sót tên hay tên họ không đầy đủ, chính xác.

Để tạm kết mẩu tâm tình không sao nói hết nầy, chúng tôi xin có lời cám ơn các bạn học sinh LƯƠNG VĂN CAN, các bạn cựu học sinh, đặc biêt các bạn trong BAN LIÊN LẠC CỰU HỌC SINH đã cho chúng tôi cơ hội quý hiếm sống lại bằng ký ức một thời mà chúng tôi nghĩ là đẹp nhất của tuổi trẻ là được hết mình phục vụ những lợi ích thiết thân của đồng bào một thời khốn khó.

Chúng tôi tin rằng, với một tập thể học sinh và cựu học sinh không quên cội nguồn , cùng nhau dành một ngày truyền thống cho Trường mình trong suốt nhiều năm qua _ điều mà không phải trường nào, dù xưa hay nay, đều có _ để đi đến kỷ niệm 50 năm ngày sinh của Trường hôm nay, thì Trường đó chắc chắn phải tốt đẹp, bền vững. Và các thề hệ tiếp nhau xuất thân từ Trường đó sẽ có một tương lại vững chắc, đáp ứng xứng đáng lòng mong đợi của gia đình, đất nườc và xã hội./.

 

 Hoa Kỳ, ngày 19 tháng 10 năm 2016.

 HIỆP-NĂM KHẮC-TÙNG

 TÂN-TỎ THANH -HẰNG

 Đồng ký tên

 




Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn