Tiếng Việt
Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
420,558

Ly kỳ Những Địa Danh Trấn Yếm Phong Thủy Ở Saigon

19 Tháng Chín 201712:00 SA(Xem: 1042)

[[[[[[[[

LY KỲ NHỮNG ĐỊA DANH TRẤN YỂM PHONG THỦY Ở SÀI GÒN

Khám Chí Hòa, Hồ Con Rùa, Dinh Độc Lập, Long mạch Xa lộ Hà Nội, Thuận Kiều Plaza...

Bạn đã bao giờ thắc mắc tại sao không có rùa vẫn gọi là Hồ Con Rùa hay tại sao Khám Chí Hòa nhìn từ trên cao lại có hình thù bát quái, đằng sau đó là cả một câu chuyện.

DINH ĐỘC LẬP

dinh_dl

Người ta truyền rằng Dinh Độc Lập nằm trên thế đất hung hãn cho nên những nhân vật chính trị cư ngụ trong Dinh chẳng ai được lâu dài và an toàn.

Đất hãm sát chủ

Dinh Độc Lập được xây dựng từ thời Pháp thuộc với tên ban đầu là Palais Norodom. Có ý kiến giải thích rằng tên Norodom là do Dinh nằm ở đầu con đường có tên Boulevard Norodom chứ không có liên quan gì đến ông Norodom Sihanuk là Quốc vương Campuchia.

Đến thời kỳ nước Pháp trao trả nền độc lập giả hiệu cho Bảo Đại thì Dinh này được đổi tên thành Dinh Độc Lập.

Có lẽ cái Dinh này là một trong số ít những công sở được dân chúng quan tâm bàn tán nhiều nhất. Người ta chú ý đến nó vì có nhiều câu chuyện liên quan đến môn phong thủy. Cuốn sách Thiệu – Kỳ một thời hãnh tiến một thời suy vong của nhà báo Lý Nhân – một chứng nhân sống dưới chế độ Sài Gòn, cho biết rằng: Dân chúng đồn rằng Dinh nằm trên mảnh đất rất hung hiểm cho nên hầu hết những chính khách ở trong Dinh chẳng ai có sự nghiệp lâu dài, bền vững.
dinh_dl2

Họ dẫn chứng từ các ông toàn quyền Pháp mà điển hình là ông Ely khi làm cao ủy đóng ở Dinh Norodom thì quân Pháp thua liểng xiểng ở Điện Biên phải rút về nước. Cho đến ông Diệm làm Tổng thống cũng chỉ được 9 năm là bị đảo chính vong mạng.

Hơn thế nữa, ngay trong 9 năm cầm quyền, ông Diệm cũng đã 1 lần suýt chết trong Dinh. Đó là vào ngày 27/2/1962, hai phi công của phe đảo chính đã ném bom vào Dinh làm sập cánh trái của Dinh. Tuy không có tổn thất nào về người nhưng cuộc ném bom cũng làm cho những người sống và làm việc trong Dinh một phen hú vía.

Sau đó ông Diệm quyết định phá Dinh đi xây lại mới hoàn toàn. Công việc thiết kế được giao cho kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một người tốt nghiệp trường kiến trúc danh tiếng ở Paris và là người Việt Nam đầu tiên được nhận giải Khôi nguyên Roma.

Nhưng Dinh chưa thi công xong thì anh em ông Diệm bị đảo chính và chết thảm. Theo sau ông Diệm, chính trường Sài Gòn khủng hoảng, chỉ trong 2 năm mà cả chục chính phủ cứ lập lên rồi lại sụp đổ.

Đến khi Nguyễn Văn Thiệu thâu tóm được quyền lực thì tình hình mới ổn định. Ngày 30/6/1966, Dinh khánh thành và ông Thiệu dọn vào ở trong Dinh. Người ta lại tính rằng kể từ ngày dọn vào đến khi phải tháo chạy ra nước ngoài, ông Thiệu cũng chỉ ở trong Dinh được 9 năm. Và trước khi nó rơi vào tay quân giải phóng thì cũng bị ném bom một lần nữa nhưng may mắn chỉ bị hỏng cầu thang.

Ẩn ý của người thiết kế Dinh

Năm 1966, trong lễ khánh thành Dinh mới, ông Ngô Viết Thụ - tác giả thiết kế Dinh đã phát biểu tóm tắt thiết kế của mình. Trong đó, nhiều ý đến nay vẫn được dẫn lại trong tài liệu giới thiệu về Dinh của ngành du lịch. Nét nổi bật là mặt tiền của Dinh với 3 tầng lầu và cột cờ sổ dọc tạo thành chữ “Vương” trong Hán tự. Nhưng bên trên lại có 1 cái tum giống như một dấu chấm ở trên đầu chữ “Vương” để tạo thành chữ “Chủ”. Lúc ấy, ông Thụ diễn tả chữ “Chủ” này là nghĩa là “Chúa”.

Tuy nhiên, trong bài viết đăng trên một trang mạng, ông Trần Lê Quang, cựu bộ trưởng Bộ Cải cách điền địa dưới thời ông Diệm tiết lộ một câu chuyện khác về ý nghĩa chữ “Chủ”. Ông Quang viết: “Một tâm sự của KTS Ngô Viết Thụ, nay đã qua đời, được một ông bạn ghi nhớ và thuật lại như sau:

Ngô Viết Thụ cho biết, khi Ông sáng tạo sơ đồ của dinh Độc Lập mới, đương sự có ý định thiết kế dinh với nhiều tầng lầu ngang, dài, giống nhau, như hình Hán tự chữ “Vương”. Theo ý nghĩa của Ngô Viết Thụ, “Vương” là “Vua”.

Nhưng KTS Thụ cũng cho biết rằng Ông cố ý cho thêm ngay ở giữa tầng cuối, một tầng thượng nhỏ, như một nét phẩy trên đầu chữ Hán Tự “Vương”, để chữ Hán tự đó trở thành một Hán tự khác, là chữ “Chủ”, không còn có nghĩa là “Vua” nữa.
ảnh dinh độc lập,phong thủy dinh độc lập,phong thủyA

Ý kiến của Ngô Viết Thụ là các nhân vật chính trị Việt Nam, nếu có cơ may cư ngụ tại dinh Độc Lập mới, thì chỉ là những người “Chủ nhà” tạm thời mà thôi. Các đương sự phải hành xử thế nào với dân gian và thời cuộc tại Việt Nam, mới mong về sau được trở thành "như một nhà Vua".

Và ông Trần Lê Quang phân tích thêm về sự khác nhau trong ý nghĩa của hai chữ nói trên: “Tin tưởng của Ngô Viết Thụ rõ ràng bị ảnh hưởng bởi thuyết Phong Thủy. Tại Trung Quốc, cũng như tại Việt Nam hồi xưa, dư luận thường cho rằng ân huệ được làm Vua, là một ân huệ “Trời cho”, có thể truyền lại trong trật tự cho con cháu kế vị của nhà Vua, hay cho người thừa kế được lựa chọn.

Nhưng nếu thêm trên đầu Chữ Hán tự “Vương” một nét phẩy, thì chữ đó trở thành Chữ Hán Tự “Chủ”, như chủ nhà, chủ tịch, chủ sự, dân chủ, v.v. Các chức vụ “Chủ” thông thường không phải là “Trời cho”, mà là “Người cho”. Các đương sự thụ hưởng chức vụ “Người cho” đó, phải hành xử thế nào với thành viên của cộng đồng liên hệ, mới được hưởng chức vụ “Chủ”, mà cộng đồng đó giao cho, thông thường trong một thời gian có hạn mà thôi”.
52-large
]]
Chuyện ông Thiệu trấn yểm Dinh

Ông Nguyễn Văn Thiệu là một người rất tin thuật phong thủy. Ông ta từng mướn các thày địa lý về quê nhà Phan Rang tìm chỗ “cát địa” để đặt lại ngôi mộ ông thân sinh mình. Và năm 1975, khi các đoàn quân giải phóng trên đường tiến vào Sài Gòn thì ông ta cho lập phòng tuyến Phan Rang và hô hào tử thủ để bảo vệ cái “long mạch” đã làm nên ngôi Tổng thống của ông.

Bởi vì sùng tín như thế cho nên khi vừa giành được quyền lực chính trị, ông đã quan tâm ngay đến các vấn đề nhà cửa, dinh thự sao cho phù hợp phong thủy để “ngôi vị” trường tồn. Nhà báo Lý Nhân đã viết những dòng mỉa mai về các hoạt động sùng tín phong thủy của ông Thiệu: “Rồi không biết thày bói sáng hay mù nào đó đã quân sư cho Thiệu rằng phải yểm vì dinh Độc Lập là đầu con rồng, và cái đuôi nó kéo dài mãi ra tới công trường chiến sĩ của Pháp xây dựng ở đường Duy Tân – Trần Quý Cáp.

Thiệu nghe vậy cũng run nên đã bí mật cho một số học sinh sinh viên kéo tới đập phá đài chiến sĩ trận vong của Pháp và cho đào một cái hồ có mô tháp cao đặt tên là công trường quốc tế. Nhưng người dân Sài Gòn gọi nôm na là hồ con rùa, vì ở hồ này có làm 1 con rùa bằng đồng nằm dưới chân tháp. Theo huyền thoại thầy địa lý nào đó nói Thiệu muốn yên vị ở “phủ đầu rồng” thì phải xây cái hồ chỗ công trường chiến sĩ vì đó là đuôi con rồng, lại phải trấn yểm để nó khỏi quậy lung tung thì sự nghiệp mới bền vững. Bởi vậy bên trên con rùa có cái tháp cao tượng trưng cho cái đinh để cắm xuống đuôi rồng”.

Ngoài việc xây hồ con rùa, ông Thiệu còn cho yểm bùa ở trước cổng Dinh Độc Lập. Điều đó cũng phát nguyên từ lời khuyên của các thày địa lý rằng tuy Dinh được xây cất lộng lẫy, bố trí độc đáo, nhìn bình diện từ trên cao xuống mặt bằng Dinh có hình chữ Cát nhưng trước mặt lại có con đường từ thảo cầm viên đâm thẳng vào Dinh như một mũi tên (Đó là đường Lê Duẩn ngày nay). Đó là điều đại kỵ trong phong thủy cho nên cần phải tìm cách giải trừ ảnh hưởng xấu này.

Tác giả Nguyễn Hoàng Điệp trong sách Thế giới có gì thần bí viết: “Nhiều người còn tán tụng từ trên cao nhìn xuống toàn bộ mặt bằng của dinh Độc lập được xây dựng trên khu vực hình chữ “cát” có nghĩa là tốt lành. Nhưng rồi có người mách: con đường từ thảo cầm viên đâm thẳng vào dinh như một mũi tên. Ngài Thiệu bèn trích công quỹ bỏ ra 2 triệu đồng, cậy cục thuê một pháp sư yểm cho lá bùa chôn ngay giữa cổng chính. Đồng thời phía trước dinh, ông Thiệu còn cho bố trí những rào sắt chắn đặt thường xuyên trên con lộ. Nhất cử lưỡng tiện: vừa tạo thành vật cản chặt đứt mũi tên theo lời khuyên của thày địa lý, vừa chặn được những đám biểu tình đấu tranh của dân chúng”.

Thiết nghĩ, người xưa nói ai được lòng dân thì được thiên hạ. Có phải đâu chỉ vì đất hung hiểm mà sự nghiệp ngắn ngủi thôi đâu. Cái chính là không được lòng dân, đi ngược lợi ích nhân dân thì bị đào thải đó thôi.
[[
HỒ CON RÙA

ho_cr1

Hồ Con Rùa có tên chính thức là Công trường Quốc tế (trước là Công trường Chiến sĩ trận vong). Đây là nút giao của 3 con đường Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân. Tuy không chính thức được xác nhận, nhưng rất nhiều giai thoại cho rằng hồ Con Rùa được thiết kế thêm hồ phun nước hình bát giác, con rùa đội bia. Và trụ đứng vươn lên cao ở giữa hồ chính là biểu tượng bát quái đồ, Kim Quy cùng chiếc đại đinh đóng xuống đất là để yểm đuôi rồng.

Các vị cao niên kinh qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của vùng đất này đã kể những giai thoại rằng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là người đa nghi và cuồng tín. Bởi vậy, sau khi nhậm chức tổng thống, ông luôn trong tâm trạng bất an, lo lắng cho vị thế của mình. Vào năm 1967, nghe tin có thầy địa lý cao tay ở Hong Kong, Thiệu liền cho người mời sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập.

ho_cr2

Thầy địa lý nghiên cứu đến mấy ngày sau rồi phán: “Dinh Độc Lập được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1 km, rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ trận vong. Cần phải dùng một con rùa lớn trấn yểm đuôi rồng lại thì sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững”.

Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu lập tức tin theo, cho xây hồ nước theo hình bát giác, phỏng theo bát quái đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để trấn yểm của người xưa. Hồ có 4 đường đi bộ xoắn ốc đều hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội bia đá.

Ngoài ra, khu vực trung tâm còn có một cột cao mang hình cánh hoa xòe phía trên. Cột cao này được xem như một chiếc đinh lớn đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại. Năm 1972, Công trường Chiến trị trận vong được đổi thành Công trường quốc tế. Vào đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ. Tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.

Lại có giai thoại khác liên quan đến việc hồ Con Rùa là sản phẩm trấn long mạch Sài Gòn. Giai thoại này gắn liền với nguồn gốc xây Dinh Độc Lập do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, lấy núi giả trong Thảo Cầm Viên làm bình phong, sông Thị Nghè làm lưu thủy, tạo thế long chầu, hổ phục.

Người Pháp biết rõ điều này, liền cho xây nhà thờ Đức Bà mặt trước bên phải Dinh, hòng phá vỡ thế chữ Vương (gồm đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Pastuer – Phạm Ngọc Thạch hiện nay), thêm một chấm thành chữ Chủ nhằm phá luôn long mạch của Dinh. Do vậy phải xây thêm hồ Con Rùa để phá thủy, làm nước phun lên.

Nhưng còn một điều rất huyền diệu về hồ Con Rùa mà rất ít người bình thường để ý đến, chỉ có các thầy phong thủy và các kiến trúc sư học thêm bộ môn trấn yểm mới hiểu tận tường những bí ẩn trong thiết kế tổng quan của Sài Gòn xưa. Đó là Bảo tàng Chứng tích chiến tranh nằm ngay giữa ngã tư Võ Văn Tần – Lê Quý Đôn xưa chính là chùa Khải Tường. Chùa Khải Tường là nơi chúa Nguyễn Phúc Ánh trên đường bôn tẩu tránh sự truy đuổi của Tây Sơn có ghé qua tá túc. Và hoàng tử Đảm – sau này trở thành vua Minh Mạng - đã được sinh tại nơi đây.

Tương truyền, khi hoàng tử Đảm - chân mệnh đế vương - ra đời, chùa Khải Tường đã phát ra hào quang đến 3 đêm liền. Nếu nhìn trên bản đồ chụp từ vệ tinh thì chùa Khải Tường thẳng trục với Dinh Độc Lập và vuông góc với hồ Con Rùa. Việc trấn yểm này còn liên quan đến ngũ hành, âm dương, phá thủy, giả sơn mà các thầy chiêm tinh, địa lý nào cũng phải biết.

ho_cr3-large

Do đó, không phải ngẫu nhiên mà hồ Con Rùa nằm thẳng trục với nhà thờ Đức Bà trên đường Phạm Ngọc Thạch, còn chùa Khải Tường thẳng trục Dinh Độc Lập. Bốn công trình nổi tiếng này đều được xây dựng tại những địa điểm mà xưa kia ít nhiều đều dính dáng đến long mạch của Sài Gòn và càng không phải ngẫu nhiên mà tạo thành một hình vuông, nếu chiếu bóng sẽ trở thành một đường thẳng.

CŨNG CÓ MỘT GIAI THOẠI KHÁC

Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao địa danh nay bây giờ có tên là Hồ Con Rùa trong khi nó không có hình thù một con rùa và cũng chả có một con rùa nào trong hồ nhưng ít ai để ý rằng Hồ Con Rùa có tên chính thức là Công trường Quốc tế (trước là Công trường Chiến sĩ trận vong). Đây là nút giao của 3 con đường Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân. Tuy không chính thức được xác nhận, nhưng rất nhiều giai thoại cho rằng hồ Con Rùa được thiết kế thêm hồ phun nước hình bát giác, con rùa đội bia. Và trụ đứng vươn lên cao ở giữa hồ chính là biểu tượng bát quái đồ, Kim Quy cùng chiếc đại đinh đóng xuống đất là để yểm đuôi rồng.

Nhiều người cao niên kể lại rằng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là người đa nghi. Bởi vậy, sau khi nhậm chức tổng thống, ông luôn trong tâm trạng bất an, lo lắng cho vị thế của mình. Vào năm 1967, nghe tin có thầy địa lý cao tay ở Hong Kong, ông Thiệu liền cho người mời sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập.

Vì lý do đó, việc xây dựng Hồ Con Rùa ở vị trí đuôi rồng với hy vọng con rùa nặng nề là một trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) có khả năng trấn giữ đuôi rồng, không cho rồng vùng vẫy khi thức dậy!

XA LỘ HÀ NỘI

Xa lộ Hà Nội, trước gọi là xa lộ Biên Hòa, được khởi công vào tháng 7-1957 đến tháng 4-1961 thì hoàn thành với chiều dài 32 km, rộng 21 m. Tuyến đường bắt đầu từ ngã tư Hàng Xanh, kết thúc tại ngã ba Bến Đỗ (còn gọi là ngã ba Chợ Sặt vì chợ Sặt, Biên Hòa nằm gần ngã ba này).

“Vong” vì cắt băng khánh thành trật chỗ (?!)

Lúc đầu, xa lộ này được cho là có thể sử dụng làm đường băng dã chiến cho máy bay quân sự cất/hạ cánh. Đến năm 1971, người ta đặt dải phân cách ở giữa tim để chia đường thành hai chiều riêng biệt. Nhìn từ trên cao, tuyến xa lộ Hà Nội như một con rồng uốn trên vùng đất có cả đồi và trũng, lượn vắt qua cả sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Thời chiến tranh, bên nào nắm được xa lộ Biên Hòa là có thể chế ngự được cả Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ. Thời nay, xa lộ Hà Nội được coi là xương sống, huyết mạch kinh tế của vùng và cả nước.

Nói về tầm quan trọng của tuyến xa lộ Hà Nội như thế để kể lại chuyện xưa. Chuyện rằng ngày 28-6-1961, tại Thị Nghè, ông Ngô Đình Diệm cắt băng khánh thành, khai thông xa lộ Biên Hòa. Ngày 1-11-1963, anh em nhà họ Ngô bị phe đảo chính giết. Được dịp, các thầy phong thủy, địa lý mới “giở quẻ” ra mà phán rằng: Nhà Ngô “vong” vì khi khánh thành xa lộ Biên Hòa đã đứng ở Thị Nghè để cắt băng là không đúng chỗ, phạm vào luật phong thủy “khởi hạ, thành thượng” (khi khởi công, khởi sự thì chọn nơi thấp; khi nên việc, khánh thành thì chọn nơi cao mà làm lễ!). Vì theo bình đồ (bản vẽ thể hiện mặt chiếu bằng địa hình của một khu vực) thì khu vực Thị Nghè - Hàng Xanh là vùng triền trũng đổ ra sông Sài Gòn, là nơi thấp của cả tuyến xa lộ Biên Hòa. Nơi cao nhất của tuyến chính là khu vực quanh ngã tư Thủ Đức. Vì thế nơi này có tháp điều áp để cấp nước cho cả Sài Gòn và vùng Thủ Đức, Biên Hòa.

Theo một cán bộ ngành giao thông công chính, từ sau năm 2005, những người chuyên làm cầu đường bắt đầu tin vào phong thủy, địa lý hơn. Với họ, “thời” (mở rộng xa lộ Hà Nội) đã điểm và “thế” (nghinh thiên của rồng) đã định nên mọi việc khởi công, khánh thành liên quan đến xa lộ Hà Nội đều được “hành lễ” cẩn trọng. Họ đưa ra quan niệm mới “Khởi thượng thành nhân” (khởi sự, khởi công ở nơi cao (ráo) thì mới nên người) và đương nhiên điểm được chọn làm các lễ trên là quanh khu vực ngã tư Thủ Đức! Chả thế mà ngày khởi công mở rộng xa lộ Hà Nội 2-4-2010 đã được người ta chọn “hành lễ” gần cây xăng Ngọc Điệp, cách ngã tư Thủ Đức khoảng 200 m (phía đối diện là cặp rồng chầu được trồng, uốn bằng cây kiểng như đã nói). Tiếp đó, lễ khởi công xây dựng cầu thép vượt ngã tư Thủ Đức ngày 10-7-2012 cũng được tổ chức ngay tại ngã tư, bên hông Co.opmart. Ngày 27-1-2013, lễ khánh thành cầu vượt cũng được làm ở ngay ngã tư này.

Có người bảo cầu đã vượt lên ở nơi cao nhất của tuyến xa lộ Hà Nội (“đỉnh” nghinh thiên của TP) mà không gặp trục trặc nào khi thi công chứng tỏ… trời đã thuận (!). Lại nữa, ngày khởi công cầu vượt Hàng Xanh (16-10-2012) không có lễ như lẽ thường. Ngày khánh thành ở cầu vượt Hàng Xanh cũng không có lễ cắt băng dù việc thông xe diễn ra cùng lúc với cầu vượt Thủ Đức. Cũng trong ngày 27-1-2013, cầu Suối Cái ở phía dưới dốc ngã tư Thủ Đức được hoàn thành, thông xe nhưng không có “lễ” ở đây.

Một vị lãnh đạo Sở GTVT giải thích chẳng qua cùng một ngày mà thông ba cây cầu nên làm lễ ở một nơi cho tiết kiệm. Nhưng những người “già chuyện” thì cố tình giải thích sự kiện theo hướng mê tín, rằng “cái dớp” đứng cắt băng ở chỗ thấp (“thành hạ”) không đúng chỗ của họ Ngô xưa vẫn ám ảnh những người làm cầu đường hôm nay (!).

Không chặt… đầu rồng!

Theo quy hoạch từ cuối thế kỷ trước, ngã tư Thủ Đức sẽ được xây dựng thành nút giao thông ba tầng: hầm ở dưới, vòng xoay trên mặt đất và cầu vượt trên cao. Tháng 5-2012, Sở GTVT trình lên UBND TP ba phương án làm cầu vượt tại ngã tư này: 1. Làm cầu vượt theo hướng đường Võ Văn Ngân - Lê Văn Việt cho hai làn xe đi hai chiều; 2. Làm trước bốn làn cầu vượt theo hướng xa lộ Hà Nội; 3. Làm tám làn hầm chui theo hướng xa lộ Hà Nội…

Lại theo lời phán chỉ của các thầy phong thủy, địa lý và lời đồn đoán của những người chuyên xây dựng cầu đường, nếu làm theo phương án 3 thì con rồng xa lộ Hà Nội đang ở thế lên đỉnh nghinh thiên bỗng chuyển thế chúi đầu xuống đất (“kiến địa”) là điều không nên. Lại nữa, khi hoàn chỉnh nút giao thông theo phương án 1 thì cầu vượt Võ Văn Ngân - Lê Văn Việt như một nhát kiếm chém xuống đầu rồng đã bị ở thế “kiến địa”. Và dĩ nhiên, họ phán trong thuật phong thủy, hai phương án nói trên là những điều đại kỵ.

Phàm ở đời, muốn ăn theo nói leo, muốn tát nước theo mưa thì người ta cũng phải biết lựa lúc trời có mưa mới… tát. Và điều trùng hợp mà các thầy địa lý, phong thủy vin vào để bàn tán chính là cuối cùng cơ quan chức năng đã lựa chọn phương án 2 để xây dựng nút giao thông.

Theo ông Vũ Kiến Thiết, Giám đốc Khu Quản lý Giao thông Đô thị số 2, sở dĩ phương án 2 được chọn vì nó giải quyết được 75% lượng xe qua nút (phương án 1 chỉ là 16%), giá rẻ hơn (270 tỉ đồng so với 720 tỉ đồng nếu làm hầm tám làn xe theo phương án 3), thời gian thi công nhanh hơn (năm tháng so với 37 tháng nếu làm theo phương án 3). “Việc lựa chọn phương án 2 là dựa theo các tiêu chí kỹ thuật, kinh tế và thời gian thi công để sớm giải quyết nạn kẹt xe ở ngã tư Thủ Đức. Còn mọi lời đồn đoán về phong thủy, địa lý thì cũng chỉ là… đồn đoán mà thôi!” - ông Thiết nói.

TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI

CỦA CAO BIỀN DƯỚI LÒNG SÔNG TÔ LỊCH

Vào tháng 4/2007, báo Bảo vệ Pháp luật đã đăng một loạt bài về hiện tương “thánh vật ở sông Tô Lịch” gây xôn xao dư luận một thời gian dài.

Theo đó, vào tháng 9/2001, một đội thi công xây dựng do ông Nguyễn Hùng Cường làm đội trưởng, trong quá trình thi công kè bờ, nạo vét một đoạn sông Tô Lịch thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội đã tìm thấy một số di vật cổ, trong đó có tám bộ hài cốt bị đóng đinh vào bả vai, nhiều xương răng động vật (voi, ngựa, trâu), hơn mười cái liễn lớn nhỏ bằng sành, nhiều đồ gốm, đồ sắt, đồ dùng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, một số mảnh gốm men ngọc đã bị vỡ được cho là thuộc đời nhà Trần và Lê Sơ, tiền cổ hình tròn có lỗ vuông. Tại khu vực này còn phát hiện thấy nhiều vật liệu xây dựng cổ xưa như ngói cổ, đá, nhiều gạch cổ, đặc biệt là gạch vồ thời nhà Lê. Quanh chỗ phát hiện hài cốt là các cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố trí lạ.
Công trình được dừng lại một thời gian để các nhà khoa học nghiên cứu. Giám đốc Bảo tàng Hà nội và các nhà khoa học được mời tới, trong đó có giáo sư Trần Quốc Vượng. Giáo sư Vượng cho rằng đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ thứ 9.
Trong quá trình thi công, ông đã thuật lại những hiện tượng như: Các công nhân xây dựng gặp các hiện tượng như động kinh, mơ gặp ma, thân nhân của họ gặp nhiều chuyện bất hạnh liên tiếp, các công việc thi công không tiến triển được như đê đắp lên thì đê vỡ, kè thép không vỡ nhưng nước xói từ dưới lên, đặt đá xuống thì đá chìm, nhiều mũi khoan bị gãy nhanh khi khoan thăm dò ở giữa sông, một số người khác có liên quan đến các di chỉ và những người được mời tới làm lễ giải bị ốm nặng hoặc chết trong vòng một vài tháng…
Một số nhà khoa học, nghiên cứu lịch sử và các nhà nghiên cứu phong thủy Việt Nam khác cho rằng đây có thể là nơi trấn yểm của Cao Biền. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, câu chuyện “thánh vật ở sông Tô Lịch” là chỉ những thông tin thổi phống, sai lệch so với sự thật.

CỘT ĐỒNG MÃ VIỆN
Âm mưu trấn yểm nước Việt

Cột đồng Mã Viện, theo một số sử cũ, là một cây cột đồng lớn trên có khắc sáu chữ Hán: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" do viên chỉ huy quân đội nhà Hán là Mã Viện sai làm từ các dụng cụ bằng đồng thu được của người Việt và cho dựng sau khi chinh phục được cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng ở Giao Chỉ vào năm 43.
Theo nhà khảo cứu độc lập Thiên Đức, cột đồng này chính là một phần của trận đồ phong thủy được lập để diệt tận mọi mầm mống phản kháng ở nước ta.
Cụ thể, Mã Viện đã sử dụng một loại bùa rất hiếm hoi đề cập trong sách vở đó là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch. Yếu tố Dương trong bùa yểm này là chiếc cột đồng, còn yếu tố Âm là Kiến Thành - tòa thành hình cái kén được Mã Viện cho xây ở Phong Khê.

Hình dáng Kiến Thành kết hợp với cột đồng Mã Viện tạo nên một đạo bùa mạnh nhằm trấn yểm không cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc. Nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một trò rất thô bỉ là "đóng cọc” người đàn bà Giao Chỉ nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền cho nữ giới Việt Nam sau này.

Ngoài ra, câu "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" về bản chất là một câu thần phù hay một lời nguyền. Chữ “chiết” ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai. Do đó, câu này nên giải thích là "trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết", chứ không thể dịch là “trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết”. Chữ “huyệt” và chữ “vương” là hai chữ đã bị ẩn trong câu này.

Cao Biền và cuộc chiến bùa yểm ở nước Việt

Lịch sử Việt Nam đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều giai thoại ly kỳ về hoạt động yểm bùa của Cao Biền - quan đô hộ nước ta thời Bắc thuộc.

Một giai thoại nổi tiếng kể rằng, khi sang Giao Châu, Cao Biền thấy long mạch nước Nam rất vượng, muốn phá đi, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả tảng lập đàn cúng tế để lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Một lần, khi Cao Biền cưỡi diều giấy bay đến đất Hoa Lư đã bị một đạo sĩ cùng dân chúng ở đây dùng tên bắn. Cao Biền trọng thương, diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó hòn núi mang tên là núi Cánh Diều.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy một trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trôi mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, chập chờn lên xuống trong khoảng không. Biền rất sợ, muốn yểm thần, đến đêm nằm mộng thấy thần tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là tinh ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh. Ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi; ta có sợ gì bùa phép?”.
Biền lại khiếp đảm, sáng hôm sau lập đàn niệm chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm. Đêm hôm ấy, sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay tan trên không. Cao Biền càng kinh hãi, than rằng: “Xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ” và sau đó cho lập đền thờ ở ngay chỗ ấy và phong cho thần là thần Long Đỗ, chính là đến Bạch Mã ở phố cổ Hà Nội ngày nay.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng: khi sang nước Nam để yểm bùa và triệt hạ long mạch, Cao Biền có nuôi 100 âm binh. Đến nước Nam, Cao Biền ở trọ nhà một bà hàng nước và nhờ bà mỗi ngày thắp một nén hương, gọi dậy một âm binh. 100 ngày thắp đủ 100 nén hương sẽ gọi dậy được 100 âm binh. Bà lão nước Nam đã phá âm mưu của Cao Biền, giả vờ quên, thắp cả 100 nén hương trong một ngày. Kết quả là 100 âm binh của Cao Biền đã dậy đủ nhưng mà dậy non, thiếu ngày nên chẳng hiệu quả gì. Đây là nguồn gốc của câu thành ngữ “lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”.


KHÁM CHÍ HÒA

xnoprog-1

Một kiến trúc khác được cho là biểu tượng phong thủy thứ hai của Sài Gòn là trại giam Chí Hòa, mà người dân vẫn thường gọi là khám Chí Hòa. Toàn bộ khu trại giam này rộng khoảng 7 ha, được người Pháp xây dựng từ những năm 1943.

Sở dĩ người ta cho rằng khám Chí Hòa là một biểu tượng phong thủy dùng để trấn yểm Sài Gòn là bởi kiến trúc của nó khá đặc biệt. Trại giam này được một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo thuyết ngũ hành, bát quái. Khám Chí Hòa cao 3 tầng lầu, có hình bát giác với 8 cạnh đều nhau, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H, tượng trưng cho 8 quẻ: càn, khôn, chấn, tốn, cẩn, khảm, đoài, ly.

Đây là công trình được đánh giá khá cao, bởi nó hòa hợp được những đặc trưng cơ bản của kiến trúc Pháp, vừa mang nét huyền bí âm dương ngũ hành của phương Đông.

Một vài tài liệu nghiên cứu cho rằng, khám Chí Hòa được xây dựng dựa trân bát quái trận đồ của Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Mỗi cạnh của bát quái trận đồ là một khu, lưng xây bịt kín phía ngoài, còn phía trong toàn song sắt. Toàn khu trại giam chỉ có một cửa vào, người ta gọi đó là cửa Tử. Qua cửa này là hệ thống đường hầm.

Điều đặc biệt nhất của khám Chí Hòa là tất cả các lối di chuyển bên trong đều được thiết kế theo cung vị. Chính vì thế, người bình thường khi bước qua cửa Tử sẽ mất hết phương hướng, như lạc vào một mê cung trận đồ, không thể tìm thấy lối ra. Chính giữa hình bát giác là một sân rộng cũng được thiết kế theo hình bát quái đồ, với 8 khu hình tam giác chụm vào nhau.

Ngay tâm của bát quái trận đồ cũng có một đài phu nước như cột cao của hồ Con Rùa đã nói ở phần trên. Nhìn từ trên cao, đài phun nước này có hình dáng như một thanh gươm đâm thẳng xuống đất. Những giai thoại về khám Chí Hòa đều ghi lại vai trò mấu chốt của thanh gươm này và gọi tên nó là “tru tiên kiếm”.

Tru tiên kiếm trấn yểm khám Chí Hòa, khiến những tên tội phạm dù có xảo quyệt, tinh ranh đến đâu cũng không thể trốn được. Nếu tru tiên kiếm bị nhổ lên thì toàn bộ bát quái trận đồ được thiết kế công phu sẽ tự vỡ.

Chính lối kiến trúc áp dụng bát quái trận đồ nhuốm màu sắc huyền linh này mà người ta gọi lối vào duy nhất của khám Chí Hòa là cửa Tử. Nghĩa là đã vào rồi thì không có cách nào để nhận biết đường ra nếu không thông lý số, kinh dịch vốn là môn khoa học không phải bất kỳ ai cũng nghiên cứu và tiếp nhận được.

Người ta xem khám Chí Hòa là một bát quái trận đồ giữa lòng Sài Gòn, bởi lịch sử khám Chí Hòa chỉ có 2 trường hợp vượt ngục thành công. Một là của người tù cộng sản vào năm 1945, và hai là của tên giang hồ khét tiếng Phước “tám ngón” sau đó 50 năm.
kham-chi-hoa-

Hiện tại, bát quái trận đồ đã bị san bằng một nóc nhà cũng bởi tính quá hoàn hảo của nó. Trước kia, các nhà nghiên cứu kinh dịch, lý số khi nhìn vào khám Chí Hòa đều lắc đầu bởi âm binh, chướng khí tại nơi này quá nặng. Vì những tù nhân chẳng may qua đời ở đây thì linh hồn bị bát quái trận đồ giam giữ, không tài nào thoát ra được.

Không biết thật giả ra sao, nhưng chính tổng thống Ngô Đình Diệm cũng tin vào điều này. Ông Diệm đã cho mời một thầy địa lý cao tay nhằm hóa giải một phần trận đồ. Và sau đó, nóc nhà khu GF của bát quái trận đồ vô cùng hoàn hảo đã bị san bằng. Thuận theo ý trời, lòng người, ngoài cửa Tử, cửa Sanh đã được mở để cho các linh hồn được bay đi và sớm siêu thoát.

Có thể những truyền thuyết, giai thoại nhuốm màu huyền linh, kỳ bí nhưng xét về khía cạnh khoa học ngày nay thì không có thật. Nhưng cũng phải thừa nhận, khám Chí Hòa là một bát quái trận đồ hoàn hảo, ở đó giống như một mê cung đồ khiến ta mất hết mọi khái niệm về phương hướng lẫn không gian và thời gian.
[[[
THUẬN KIỀU

thuankieuplaza-1

Thuận Kiều Plaza, một công trình đồ sộ với thiết kế gồm 3 tòa tháp chọc trời, tọa lạc ở vị trí đắc địa của Sài thành. “Tư duy nhạy bén về kinh tế” là điều dư luận vẫn thường bàn tán trước khi tòa nhà này thành hình, bởi nó nằm trên trục đường chính của Q.5 giao thương nhộn nhịp. Thậm chí, một số nhà phong thủy còn khẳng định nó nằm đúng “long mạch” của thành phố, dễ dàng đạt sự thịnh vượng.

Bây giờ, sau 16 năm, tất cả dự đoán đều không trở thành sự thực. Số hộ dân ở cực kỳ thưa thớt, người sở hữu căn hộ đã thi nhau rao bán nhiều năm qua nhưng càng giảm giá thì càng khan hiếm người mua. Đáng sợ hơn nữa khi hàng loạt tin đồn về bùa ngải, quỷ ám và những câu chuyện về những “bóng ma” xuất hiện trong tòa tháp bỏ hoang này càng khiến nhiều người ghê rợn. Để rộng đường dư luận, PV đã vào cuộc làm rõ sự thật.

Tiếng động lạ trong tòa tháp

“Ở đó có nhiều oan hồn lắm, tôi khuyên các cô không nên đến đó”, anh Huy Lực (một tài xế taxi ở quận 5) nhắc lại câu cảnh báo đó nhiều lần khi nghe chúng tôi đề cập đến chuyện đi thám hiểm “tòa tháp ma” Thuận Kiều Plaza.

Trong cuộc trò chuyện, anh Lực ra vẻ bí ẩn: “Chính tôi từng là nạn nhân của những “oan hồn” này đây. Tôi nhớ rất rõ, đó là vào dịp Tết Trung thu cách đây 2 năm, khi tôi đang nằm trên xe thiu thiu ngủ vì không có khách thì nhận được cuộc điện thoại của một vị khách nữ gọi đến đón ở Thuận Kiều Plaza. Qua giọng nói, tôi đoán chừng cô còn trẻ. Vì vội vàng, tôi cứ nghĩ đó là khách quen nhưng khi đến nơi thì không thấy bóng dáng ai. Lúc này nhìn đồng hồ cũng đã gần 12h đêm, 3 tòa tháp lừng lững mà chỉ còn có vài ánh đèn leo lét, tôi bất chợt thấy cảm giác rờn rợn chạy dọc sống lưng. Trấn an mình, tôi gọi lại số điện thoại kia thì chỉ nghe tiếng thở khò khè. Tôi hoảng hồn đánh rớt luôn điện thoại”.

Sau khi lâm vào tình cảnh khó giải thích trên thì sáng hôm sau, anh Lực bình tĩnh lục lại số điện thoại trong máy với ý định gọi lại lần nữa nhưng một điều khó hiểu là số điện thoại bỗng dưng “bốc hơi”?. “Tôi kể chuyện này lại cho mọi người thì ai cũng bảo đích thị là “oan hồn” cô gái chết trẻ năm xưa. Theo đó năm 2005, một đôi tình nhân vào nhà hàng để ăn uống, không hiểu hận bạn gái chuyện gì mà chàng trai này rút súng bắn chết người yêu mình tại chỗ. Có lẽ, cô ấy chết oan nên “vong hồn” vẫn chưa được siêu thoát mà còn lởn vởn trong tòa nhà này để chọc phá mọi người”, anh Lực tỏ ra sợ hãi.

Mặc dù đã được anh Lực can ngăn và kể lại câu chuyện nhuốm màu sắc liêu trai, chúng tôi cũng quyết định tìm đến địa chỉ 190 Hồng Bàng, P. 12. Q.5 vào một buổi tối trăng tròn. Bên ngoài, phố phường vẫn nhộn nhịp đối lập hẳn với khung cảnh im lìm bên trong Thuận Kiều.

Tòa tháp A dường như lâu nay không tồn tại sự sống của con người, không một ánh đèn, bóng tối bắt đầu bủa vây. Chọn tòa tháp B làm nơi thám hiểm đầu tiên, chúng tôi chầm chậm bước vào. Là một khu phức hợp mua sắm, nhưng hầu như chỉ có người bán mà không hề thấy bóng dáng của vị khách nào.

Thấy khách lạ, một vài nhân viên ngước mắt lên nhìn rồi lại mệt mỏi cúi xuống chăm chú vào chiếc điện thoại để chơi game. Đi dọc hành lang tầng hai tòa tháp B, chúng tôi không khỏi giật mình bởi hàng trăm ki ốt bỏ hoang. Bên trong, hàng hóa chất ngồn ngộn, nhiều mặt hàng được trùm những tấm vải bố, bụi, mạng nhện bám chằng chịt.

thuan_kieu_1_

Những dãy hành lang dài nối tiếp nhau, thang cuốn lâu ngày không hoạt động. Không gian rộng lớn không một bóng người, nghe rõ cả tiếng chân mình vang vọng. Từ tầng hai, chúng tôi lách qua một chiếc cửa, leo lên một cầu thang hẹp và tối om để tiếp cận với khu căn hộ. Vừa lên đến đỉnh cầu thang, tôi gặp ngay chiếc thang máy bỏ không nhưng cửa mở toác, bên trong ánh điện mờ tỏ, thảm vải rách ra từng miếng. Ở ngay cửa thang máy, những chân nhang đã cháy hết có lẽ đã được cắm lâu ngày.

Đang tần ngần nhìn ngắm, chợt một bàn tay “hộ pháp” vỗ mạnh lên vai tôi. Giật mình quay sang, một người thanh niên, vẻ mặt nghiêm túc nói với chúng tôi: “Con gái mà đi đâu lên nơi hoang vắng này không sợ nguy hiểm à? Cái thang máy này có “ma quỷ” đấy, người ta thường nghe tiếng “ma quỷ” khóc than, réo gọi nhau trong đêm nên mới cắm nhang nhiều như vậy, giờ họ chuyển đi hết rồi, không còn ai đâu, các cô xuống đi”. Sau khi cảnh báo chúng tôi, anh thanh niên nhanh chóng bỏ đi.

Thực hư tòa tháp bị “yểm bùa” Lỗ Ban

Theo tài liệu chúng tôi tìm hiểu được, Lỗ Ban được xem là ông Tổ của nghề mộc và nghề xây dựng tại Trung Hoa. Vào năm 40 tuổi, ông từ bỏ phố phường nhộn nhịp để về sống trên núi. Tại nơi này, ông đã gặp được một vị thần, chỉ dạy cho ông những loại bùa huyền bí.

Sau này, nhiều học trò đã được ông truyền lại và những giai thoại về loại bùa Lỗ Ban vẫn được truyền lại đến ngày nay. Về bùa Lỗ Ban và thuật “trấn yểm” nhà ngày xưa, trong dân gian hiện này vẫn lưu truyền rất nhiều về truyền thuyết: “Ngày xưa, trong khi làm nhà, những người thợ và chủ nhà thường phát sinh những mâu thuẫn vì những người thợ lúc đó có địa vị rất thấp. Chủ nhà không chỉ tiếp đãi họ qua loa sơ sài mà còn cắt giảm tiền công , thậm chí còn đánh, chửi họ. Để bảo vệ cho những lợi ích của mình và trừng trị những người chủ nhà bất nhân, một số thợ xây đã học theo phép của Bùa Lỗ Ban và sử dụng để “trấn yểm” căn nhà họ vừa xây dựng , khiến cho chủ nhà suy sụp, thậm chí chết tuyệt nọc cả nhà”.

Có những truyền thuyết nói rằng, những người thợ biết dùng Bùa Lỗ Ban, cứ 10 nhà họ phải “yểm” một nhà để nuôi Tổ nghề. Gặp phải nhà thứ 10 đối xử tốt với họ, những học trò Lỗ Ban đó phải dựng một căn nhà giả để “trấn yểm”, sau đó đốt đi mới khỏi bị Tổ hành. Nhiều truyền thuyết trong dân gian nói về việc các người thợ “trấn yểm” nhà và hậu quả xảy ra vô cùng thảm khốc cho gia chủ.

Quay trở lại “ma trận” tin đồn về Thuận Kiều Plaza, từ khi khởi công xây dựng công trình này, do bất cẩn trong quá trình làm việc nên đã có 3 người gồm thợ điện và thợ hồ mất mạng tại đây. Những cái chết này đã khiến nhiều người đồn đoán rằng: “Vì không được đền bù thỏa đáng, mâu thuẫn nội bộ giữa chủ đầu tư và một nhà thầu phát sinh. Nhà thầu này vì căm tức đã rước một thầy pháp từ Hong Kong sang dùng phép thuật thả quỷ vào bên trong quấy rối”. Nhiều người khác lại tin rằng, chính những người thợ này đã tự bỏ bùa và vị trí họ chôn bùa ở đâu thì không ai biết được. Vì vậy, để Thuận Kiều Plaza làm ăn thịnh vượng trở lại là một điều hoàn toàn không thể?”

Để tìm hiểu rõ hơn về những câu chuyện nhuốm màu sắc huyền bí này, chúng tôi tiếp tục thám hiểm tòa tháp C. Gặp chúng tôi bên ngoài một hành lang, chị Hà (45 tuổi, người sống tại tòa tháp này) cho biết: “Về những lời đồn đoán “ma quỷ” thì chúng tôi cũng đã nghe rất nhiều nhưng thú thật là mình quan niệm “ai làm nấy ăn”, mình không đụng chạm tới họ thì họ sẽ không hại mình nên chúng tôi vẫn chấp nhận ở lại nơi đây. Mà người ta bảo, “ma quỷ” gì đó hay đi lại ở đây nhưng tôi ở đây cũng lâu rồi, hoàn toàn không hề thấy gì cả”.

Tiếp tục theo chân chị Hà, sau khi giới thiệu, chúng tôi được một gia đình khác mời vào thăm nhà với vẻ khá nhiệt tình, trò chuyện cùng chúng tôi tại phòng khách, anh Hoàng Anh (38 tuổi, nhân viên truyền thông) vui vẻ: “Căn hộ của vợ chồng mình thuê là 70m2 gồm 3 phòng ngủ, một phòng khách, một bếp và 2 tolet. Lúc đầu, mình thấy trần nhà quá thấp nên cũng không ưng ý vì có cảm giác luôn ngợp thở nhưng sống lâu thì quen thôi. Phòng ngủ của vợ chồng mình thì diện tích cũng tương đối nhưng phòng con mình thì chật lắm, chỉ có thể kê được một chiếc giường đơn, cái bàn học và chiếc tủ quần áo thì cũng bé xíu thôi.

Ngày trước mỗi buổi trưa, cháu ngủ đều bị bóng đè, đêm đến thì cứ khóc quấy không chịu ngủ. Lúc đó, mình cũng nghĩ về những chuyện “ma quỷ” người ta đồn đoán. Nhưng sau khi nghiên cứu kỹ lại phòng ốc, mình mới nhận thấy, vì nó quá chật hẹp nên khi ngủ cháu bị thiếu oxy mà sinh ra những trạng thái mệt mỏi như vậy chứ hoàn toàn không có chuyện gì liên quan đến ma quỷ ở đây cả”.

Trao đổi cùng chúng tôi, đại diện chính quyền P.12 cho biết: “Chúng tôi từng nghe cả một “ma trận” tin đồn về Thuận Kiều Plaza, có người còn bảo rằng trong bản vẽ, 3 tòa tháp dự tính sẽ được xây dựng theo hình chữ Sơn- (Shan, theo tiếng Trung Hoa- PV) nhưng không biết họ xây làm sao mà ra hình giống như 3 cây nhang nên “oan hồn” từ khắp nơi mới bám vào.

Rồi có người còn nói Thuận Kiều Plaza giống như một con thuyền với 3 ống khói nhưng do thiết kế phần dưới bị sai lệch nên con tàu chìm dần. Nhưng chúng tôi khẳng định, đó toàn là những câu chuyện thêu dệt, tưởng tưởng của nhiều người và hoàn toàn không có chuyện “ma quỷ” hay “oan hồn” gì ở đây”.
[[
Sưu tầm









Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn