Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
434,105

Lời Minh Oan Cho Con Gái Tầm Vu

Wednesday, October 5, 201112:00 AM(View: 3481)

Khi về thăm quê bạn ở Tầm Vu, cái tên Tầm Vu đã khiến tôi ấn tượng. Có lẽ ngoài việc đây là một địa danh chữ Hán ở vùng nông thôn Nam bộ, nó còn mang âm hưởng của đất Tầm Dương trong Đường thi mà thuở nhỏ tôi vẫn thường hâm mộ.

"Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa" ?

Sau này đọc sách, lại thêm cảm tình với đất Tầm Vu khi biết nơi đây còn duy trì một “lễ hội chay” rất đặc thù của vùng Châu Thành - Long An suốt từ hàng trăm năm qua: “Dù ai buôn bán bộn bề / Làm chay - mười sáu nhớ về Tầm Vu”.

Nhưng, có một điều khiến niềm trân trọng của khách phương xa đối với Tầm Vu bị “dội ngược”, là khi nghe câu ca dao của xứ này:

Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa
Trai Thủ Thừa cưỡi ngựa tới mua.

Vốn không thích thú với việc định giá phụ nữ bằng tiền bạc dù vì lý do gì, nên thoạt nghe câu ca dao trên, tôi cảm thấy “chướng” quá. Hỏi một số người, không ai giải thích thỏa đáng lý do xuất hiện câu ca dao trên. Còn về nội dung, thì mọi người đều thống nhất với nhau ở chỗ: câu này nói về sự rẻ rúng phụ nữ ở xứ Tầm Vu. Nhưng vì sao lại có sự rẻ rúng đó, có một sự kiện gì chăng, có một câu chuyện nào liên quan đến việc “định giá” con gái ở Tầm Vu theo cái kiểu “một đồng xu ba đứa” như vậy không? Thì cả những người ở Tầm Vu và thư tịch tư liệu lâu nay đều không thấy lý giải.

Có nhà nghiên cứu hải ngoại từng ưu tư vấn đề này và mạnh dạn cho rằng câu ca dao trên “phản ánh phần nào tình trạng dư thừa con gái ở Tầm Vu”. Kể ra việc liên tưởng từ “giá rẻ” đến “dư thừa” cũng là lối logic theo kinh tế học. Nhưng tại sao lại là Tầm Vu, và kỳ thực là cũng không có con số nào chứng minh vùng đất này dư thừa con gái - đã chứa đựng những bất ổn trong việc giải thích câu ca trên nói về tình trạng dư thừa phụ nữ ở Tầm Vu.

Còn nếu giả sử đây là một câu ca xuất phát từ sự khinh rẻ phụ nữ với nghĩa tiêu cực rằng con gái Tầm Vu không đoan chính, thì cũng không có lý, vì một câu ca truyền miệng lâu như thế, tồn tại giữa đời sống nông dân, không thể nhằm lên án tiêu cực mà không có câu chuyện liên quan hoặc chứng cứ lịch sử. Ca dao thường gắn liền với những câu chuyện của người xưa, nên không thể có việc ám chỉ một nét xấu của phụ nữ một vùng mà chỉ bằng một câu ca dao vu vơ, không có những câu chuyện hay chứng cứ gì kèm theo.

Vậy thì, câu ca này từ đâu mà có? Dù chưa có chứng cứ chính xác về xuất xứ, nhưng với nội dung câu chữ trong câu, hẳn nhiều người con gái xứ Tầm Vu cũng thẹn thùng mắc cỡ khi nghe người ta đọc câu này với ám chỉ (nhiều khi là trêu ghẹo) rằng con gái ở Tầm Vu “mất giá”.

Lại nữa, trong câu ca trên còn có một chi tiết là “con trai Thủ Thừa cưỡi ngựa tới mua”. Xét về nội dung, thì vùng đất Thủ Thừa khi xưa có nghề nuôi ngựa, nhà quyền quý cao sang dùng ngựa đi lại không có gì phải bàn. Và mối quan hệ về trai - gái giữa Thủ Thừa với Tầm Vu cũng chưa thấy câu chuyện hay chứng cứ lịch sử nào nói lên việc con trai Thủ Thừa tìm đến con gái Tầm Vu là vì sự rẻ rúng ấy cả.

Một câu ca, ảnh hưởng đến “tiếng thơm” của con gái một vùng, với nhiều rối rắm như vậy, vẫn chưa thấy ai giải thích cho thông.

Nhưng hóa ra, có một lý giải thật hết sức đơn giản mà thuyết phục.

Chỉ là câu thai đố

Nhân vừa rồi khi nghe nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng nói chuyện về trò chơi thai đố , ông có nêu chi tiết rằng vùng đất Nam bộ khi xưa có Bến Tre và Long An là những nơi chơi thai đố rất truyền thống. Đặc biệt vùng Long An vào dịp tết hàng năm tổ chức chơi thai đố kéo dài nhiều ngày với nhiều người tham gia, có cả người đến từ các vùng khác.

Và, cũng theo ông Huỳnh Ngọc Trảng, từ trò chơi thai đố làm phát sinh câu “Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa/ trai Thủ Thừa cưỡi ngựa tới mua” để rồi từ đó, câu trên đi vào đời sống dân gian như một loại ca dao, và đến khi trò thai đố bị mai một, thì ít ai còn nhớ cớ sự tại sao lại có câu ca này. Và những nhà nghiên cứu khả kính chỉ căn cứ vào nội dung câu chữ để luận bàn mông lung, suy loại theo nhiều hướng, rốt cuộc rồi tắc tị và để mặc cho con gái Tầm Vu cứ bị mang tiếng “giá rẻ” oan như thế.

Thế thì, quá trình xuất hiện và tồn tại của câu ca trên trong trò chơi thai đố như thế nào?

Theo tổng kết của các nhà nghiên cứu, trò chơi thai đố là loại hình văn nghệ dân gian có nguồn gốc từ trò chơi đố đèn, đố chữ của người Trung Quốc. Đây là loại hình văn nghệ cao cấp, là một lối chơi chữ của các vị quan Trung Hoa, nhưng đến khi truyền vào Việt Nam thì nó được bình dân hóa bởi sự tham gia của quảng đại công chúng phần lớn là nông dân.

Thông thường có 10 lĩnh vực thường được người ra câu đố “cho xuất” để thách đố trước công chúng:

1) Xuất vật dụng: tức là nói đến các vật, đồ vật dùng trong cuộc sống hàng ngày. Trong xuất vật dụng còn chia ra xuất mộc dụng, xuất kim dụng để chẻ nhỏ ra cho người đáp dễ tìm vì xuất vật dụng còn quá rộng.

2) Xuất mộc hoặc xuất thảo mộc: đểu nói về cây cỏ.

3) Cây và trái có cùng tên với nhau. Cùng một câu đố người thì cho xuất mộc người thì xuất quả để nói về trái cây.

4) Xuất bỉnh để khoanh vùng cho các loại bánh.

5) Xuất thú dùng để chỉ cho gia súc, gia cầm hoặc các loài thú khác sống dưới đất.

6) Xuất điểu dành riêng cho các loài chim.

7) Xuất gia cư để nói về nhà cửa.

8) Xuất thiên văn để nói về trời đất và các hiện tượng của trời đất.

9) Xuất nhân để nói về con người, thân thể người hoặc việc làm của người.

10) Xuất tự để đố về chữ. Xuất tự có hai loại: Việt tự và Hán tự (Hán tự hiện nay không thuộc loại phổ thông nên ít được dùng).

Việc bình dân hóa loại hình này thể hiện ở chỗ: dân gian Việt 
Nam dùng các câu ca dao, tục ngữ bình dân để đố chữ; khác với Trung Quốc thường dùng các điển tích và thi phú của Nho gia để đố. Do vậy, xét các câu thai đố, ta thường thấy đa phần người ra câu đố vận dụng các câu ca dao đã có để ra đề. Việc này sở dĩ được thực hiện là nhờ đặc điểm “cho xuất” quan trọng của trò thai đố. Với việc “cho xuất”, người ra câu đố giới hạn lời giải ở vào lĩnh vực nào.

Và với nghệ thuật “cho xuất”, người ra đề có thể áp dụng nhiều câu ca dao để đố. Ví dụ câu ca “Ví dầu cầu ván đóng đinh/ cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi” được ra thai đố với yêu cầu “xuất bỉnh” khiến cho người chơi phải nhanh trí suy luận: cầu tre khó đi, muốn qua ắt phải bò, chữ “bò” là tên một loại bánh, bèn đưa ra câu giải đáp là “bánh bò” thì trúng phóc so với đáp án.

Cách ra đề của thai đố lắc léo thiên hình vạn trạng như thế, nên việc “cho xuất” rất quan trọng. Chẳng hạn câu “Chèo thuyền ra tới biển đông/ cái mui thì mất cái cong thì còn” với yêu cầu “xuất thú”. Câu này là một đặc thù của người dân Nam bộ, bởi người ra đề dùng kiểu nói lái. “Cong thì còn” nói lái thành ra “con thì còng”, cho xuất thú nên giải đáp là “con còng” sẽ thắng cuộc.

Dùng ca dao để ra thai đố, là một cách khai thác kho tàng ca dao dân ca. Ca dao dân ca hiện diện trong trò chơi thai đố, lại là một đời sống mới lạ, sinh động của những câu chữ nôm na từ lời ăn tiếng nói của dân gian.

Tuy nhiên, ít ai để ý đến một xu hướng ngược lại: những câu thai đố từ trong trò chơi trở thành ca dao dân ca. Tất nhiên trò thai đố không quy định hoặc giới hạn người ra đề phải sử dụng ca dao dân ca, cho nên, các cụ đồ làm chủ khảo trò chơi ngày xưa vẫn thường nghĩ ra những câu thai đố mới. Điều này bổ sung vào kho tàng câu đố của trò chơi. Lâu ngày, một số câu trở thành ca dao dân ca là điều không tránh khỏi.

Trường hợp câu "Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa/ trai Thủ Thừa cưỡi ngựa tới mua” rơi vào trường hợp này.

Theo ông Huỳnh Ngọc Trảng dẫn lời các cụ già ở đất Long An, khi nói về trò chơi thai đố, đã khẳng định rằng câu trên đích xác là một câu đố, yêu cầu “xuất vật” (đố về vật dụng) hẳn hoi, và lời giải đáp như sau: “một đồng xu ba đứa” tức là giá rẻ, chữ “rẻ” với yêu cầu “xuất vật” đúng là tên của cái rỏ rẻ (cái ròng rọc) dùng để kéo nước thường ngày.

Và như vậy là, theo hướng lý giải này, vì nhu cầu muốn đố về cái rỏ rẻ, mà người ra đề đã đặt một câu cố ý tạo nghĩa “rẻ” để dùng từ đồng âm. Từ đó, khi trò chơi thai đố không còn thịnh hành nữa, người ta cũng quên luôn “điều kiện hình thành và tồn tại” của câu trên, mà lại được hiểu thành câu ca dao chỉ cho con gái một vùng - mặc dù không có chứng cứ nào thuyết phục cả - như đã nói ở trên.

Một trong những đẳng cấp nghệ thuật của người ra thai đố là có thể đố tất cả các tên gọi ở mỗi lĩnh vực. Và có lẽ, vì nhu cầu phải tìm một câu để đố về cái rỏ rẻ, một ông chủ khảo nào đó đã đặt câu ca trên - để đến ngày nay mọi người dường như không còn nhớ nữa.

Tất nhiên, cũng có thể câu ca trên có trước, và ông chủ khảo nào đó chỉ “nhân tiện sử dụng” như đối với các trường hợp khác. Nhưng cho đến hiện nay, ngoài lý do “dùng để làm thai đố”, chúng tôi chưa biết được sự lý giải thỏa đáng nào cho câu ca trên. Và như vậy, với hướng nắm bắt của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, chị em phụ nữ vùng Tầm Vu đã có thể yên tâm rằng: câu trên là một câu thai đố, vì nhu cầu vần vò “Vu - xu” mà người ta đặt ra để dùng chữ rẻ đố cái rỏ rẻ theo lối đồng âm. Và như thế, câu ca trên không liên quan gì đến chị em ở xứ Tầm Vu.

LAM ĐIỀN

 

Send comment
Your Name
Your email address