Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
432,175

Mồng 5 Tết, một ngày oanh liệt nhất của lịch sử ta

Friday, January 27, 201212:00 AM(View: 5979)


Mỗi năm, ngày mùng 5 tháng giêng, dân Hà Thành lại đổ xô xuống gò Đống Đa kỷ niệm giỗ Trận. Đó là cái tục đặc biệt của dân Bắc
Hà. Tàu điện hôm ấy phải mắc nhiều toa, thêm nhiều chuyến mà vẫn không sao nêm hết thiện nam tín nữ thập phương. Cứ trông cái vẻ sầm uất ngày nay, đủ tưởng tượng thấy khi mới kỷ niệm giỗ Trận, quốc dân hoan hô cảm phục biết nhường nào!

Mà cứ trông cái gò xương lù lù như núi kia, tài nào quốc dân không cảm phục cái võ công đệ nhất của đức Nã phá Luân Việt Nam cho được!

Người ta đều biết vua Quang Trung chỉ đánh có một trận ở Đông Quan (tức Đông Kinh- Hà Nội) mà giết tan sạch hai mươi vạn quân Tôn Sĩ Nghị (Tàu) hôm mồng Bốn Tết, rồi ngày mồng Năm mới nhặt hết xác quân Tàu, chất vào một hố lớn, phủ đất lên trên, tạo thành cái gò Đống Đa bây giờ đó.

02-content

Gò Đống Đa, chẳng những là biểu hiện quét sạch quân Tàu, khôi phục nền độc lập cho Tổ quốc, nó lại gián tiếp trả thù cho mấy vạn người Nam bị chôn sống ở gò Kềnh Quán nữa (Khi đó bọn Trương Phụ, Mộc Thành vô cớ sang đánh nước Nam, bọn Phạm Tử Nhân, Nguyên Sư Cối phụng mệnh vua nhà Hồ đem mười vạn ra chống, bị Trương Phụ bắt sống, chôn sống, đắp thành đống xương Kềnh Quán ngày nay).

Tuy biết thế nhưng người ta vẫn nghi hoặc ba điều:

1) Sao quân vua Quang – Trung lại đi nhanh đến thế, chỉ trong bảy ngày trời đã vượt nổi quãng đường năm trăm cây số?

2) Chỉ dùng tám vạn quân mà thắng số định quân nhiều gấp ba lần?

3) Sao Tôn Sĩ Nghị có tới hai mươi vạn quân lại có nhiều thần công đại bác, mà chỉ một trận bị chết sạch?

Thì, đầu đuôi như sau đây:

Tháng mười năm Mậu Thân (1788) tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống đem quân sáu tỉnh sang đánh nước Nam. Các tướng Tây Sơn theo kế quân sư trẻ tuổi, Ngô Thừa Nhiệm, rút quân lui rạt vào Thanh Hóa, làm cho Tôn Sĩ Nghị không khó nhọc gì mà lấy ngon được toàn cõi Bắc Kỳ. Thấy gần Tết rồi, Sĩ Nghị cho quân sĩ ăn Tết ở Hà Nội xong đã, ra giêng sẽ tiến vào Thanh, Nghệ, Phú Xuân (Huế) (ấy cái chết là tại sự ăn Tết đó).

Vua Quang Trung ở Huế được tin, liền kéo năm vạn quân gấp đường từ Huế ra Nghệ. Nghỉ lại vài ngày, tuyển thêm ba vạn quân nữa. Rồi ngày 23 tháng Chạp, đại quân đi nhanh như vũ như bão, đi suốt ngày đêm, để kịp đánh quân thù vào giữa dịp Tết. Vì đức Hoàng đế đã biết rõ cái tệ rượu chè cờ bạc của quân Tàu là thế nào rồi.

Muốn cho đại quân đi nổi mỗi ngày hơn trăm dặm, ngài nghĩ ra một kế là: trong số tám vạn quân, phải dùng ba vạn cái cáng. Cứ hai thằng khiêng một. Cứ đi được mười dặm thì thằng nằm lại xuống khiêng còn một thằng trong hai thằng khiêng lại được nằm thảnh thơi ăn uống. Nhờ kế ấy mà quân đi được suốt đêm ngày (năm 1914, quân Đức sang đánh Pháp cũng dùng kế ấy, chỉ đổi cáng ra xe mà thôi).

Đi tới Giản Thủy (?) Phú Xuyên, bắt sạch được các tiểu đội quân Tàu, không để một mống nào sổng thoát. Nửa đêm 30 Tết thì tới đại đồn Hà Hồi (Thanh Trì) năm mươi nghìn quân Tàu ở đó đương chén say túy lúy, bị quân vua Quang Trung bắt sạch. Ngài lột lấy năm vạn bộ nhung phục Tàu mà cho năm vạn quân ngài mặc vào, mỗi người phải bôi một vết vôi trắng ở cánh tay, để phân biệt với quân Tàu. Lại cho bắt hết thuyền ở bến Chương Dương, chế thành sáu trăm bức ván lớn, mỗi bức ván có mười hai người khiêng đi trước để đỡ đạn. Trước mỗi ván lại cài đầy các bó rơm. Vì ngài đã nghiệm biết ván gỗ, đạn có thể xuyên qua, chớ gặm rơm bao giờ đạn cũng bị soán lại. Hai nữa những bó rơm kia còn có công dụng rất lợi hại cho việc đánh hỏa công. Chính nhờ các bó rơm đó, mà quân Tàu bị chết thui gần hết.

Công việc xếp đặt xong, vua Quang Trung muốn tiến vào trung tâm thành Hà Nội thật nhanh, nên chia quân thành bảy đội, đồng thời tiến vào cả bảy cửa ô (cửa ô Cầu Dừa, Cầu Giấy, Cầu Dền, Cầu Muống, Đống Mác, Yên Phụ, Bạch Mai. Chỉ trừ cửa ô Quan Trưởng tức Đông Hà vì vướng sông cái và đại doanh quân Tàu đóng ở bãi Rồ Đề gần đấy).

Bọn Sĩ Nghị ham mê tửu sắc đến nỗi địch quân đã tiến vào đến tả doanh, ngọn lửa bốc sáng rực góc trời (ba giờ đêm hôm mồng 3) mà vẫn tưởng quân mình say rượu để thất hỏa! Kịp đến khi thấy đạn nổ tứ bề, quân reo như sấm, mới vội vàng nhảy ngựa tháo chạy thì còn kịp sao được nữa. Sĩ Nghị đem đội thân binh chạy qua cầu phao để thoát sang Gia Lâm. Chẳng ngờ quân đông quá, cầu phao bị đứt, mà các đoàn quân đằng cuối cầu vẫn không biết, cứ thúc nhau tiến bừa lên, thành bị nhào hết xuống lòng sông cái. Số người chết đuối làm tắt cả dòng sông! Lại khổ nỗi hai quân Nam, Tàu đều đồng sắc phục. Quân Nam nhận biết quân Tàu, trái lại quân Tàu không thể nhận được quân Nam, nên cứ bị chém chết la liệt mà không đánh lại được.

Quân vua Quang Trung, luyện theo một quân pháp rất nghiêm, hễ ra trận cứ việc tiền tấn hậu kế, chủ tiến không lùi, nên quân khí dữ tợn như hùm beo. Lại thêm vua Quang Trung có sức mạnh như Kinh Kha, Hạng Vũ, cưỡi ngựa đen, mặc giáp sắt, ngoài phủ hoàng bào, hai tay cầm đôi đồng chùy, đi trước sĩ tốt. Đôi dùi đồng nặng sáu mươi cân của ngài cứ vung đi đến đâu, địch quân tan tành đến đấy. Đánh từ tảng sáng tới tận chiều mồng Ba mới giết sạch được quân giặc; hai thượng tướng nhà Thanh là Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống đều tử trận (ngõ Sầm Công là chỗ Sầm Nghi Đống chết), Tôn Sĩ Nghị chỉ đem được vài trăm quân kỵ chạy thoát về Long Châu (Quảng Tây). Nhân dân hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông vì bấy lâu vẫn khiếp oai vua Quang Trung, nay tưởng quân Tây Sơn sẽ tràn sang Tàu, dân chúng phải tránh bạt hết. Từ ải Nam Quan sang ba trăm dặm không thấy có khói lửa nữa…

Ngoài cái võ công đệ nhất trời Nam, vua Quang Trung lại có tài mở mang kiến thiết chẳng kém gì Minh Trị thiên hoàng: nào đặt ra thẻ sưu, chế ra tiền giấy, bắt Tàu phải mở ải thông thương, đón người ngoại quốc về mở tiệc buôn bán ở phố Hiến, lại đón người Anh quốc, Bồ Đào về Hà Nội mở trường đúc súng, đóng tàu. Nhà vua định đóng bảy ngàn tàu đồng, luyện trăm vạn quân để sang đánh Tàu, đoạt lại hai tỉnh Quảng… Chẳng ngờ trăm việc vừa mới bắt đầu thì nhà vua thốt nhiên tạ thế, khi đó ngài bốn mươi mốt tuổi, tai hại đau đớn cho dân tộc Việt Nam biết nhường nào! Nếu vua đừng chết non thì nước Nam vị tất đã thua gì nước Nhật.

Vua Quang Trung

Đệ nhất anh hùng giữa thế gian
Dẹp tan xâm lược cứu giang san
Đống Đa giặc Mãn thây chồng chất
Xoài Mút quân Xiêm xác ngổn ngang
Kim Cổ vĩ nhân so xứng bậc
Đông Tây danh tướng sánh cùng hàng
Quang Trung thế hệ tài năng trẻ
Tô điểm nhà Nam rạng vẻ vang

tác giả bài thơ : Triều Phong Đặng Đức Bích

XP (Theo Đông Tây nhật báo – 1939. Số 14

********* oOo *********

Đại phá quân Thanh giải phóng Thăng Long

Khi kinh thành Thăng Long được giải phóng, quân Thanh đã chiếm giữ Thăng Long tổng cộng được 45 ngày và khi Vua Quang Trung dẫn đầu đoàn hùng binh vào quét sạch quân thù xâm lược, tấm giáp bào của nhà Vua đã xạm đen màu khói súng.

01-content
Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Sau khi Nguyễn Huệ rút quân về Nam, tình hình Bắc Hà rối loạn. Vua Lê Chiêu Thống bất tài, dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh để đánh dẹp họ Trịnh, nhưng lại bị Chỉnh sau đó thao túng, biến thành bù nhìn trong tay Chỉnh.

Năm 1787, Nguyễn Huệ cử tướng Vũ Văn Nhậm ra diệt Chỉnh. Lê Chiêu Thống trong cơn sợ hãi đã bỏ trốn. Vũ Văn Nhậm tự ý đưa Lê Duy Cẩn – một con cháu nhà Lê – lên làm chức Giám quốc bù nhìn. Nhậm vốn là tướng của chúa Nguyễn bị Tây Sơn bắt được rồi lại dùng, nay được dịp ra Bắc thao túng mọi việc, rất mất lòng dân.

Để ổn định tình hình Bắc Hà, tháng 5/1787, Nguyễn Huệ đích thân đem quân ra Bắc, vào thẳng dinh Bắc Trấn, trị tội Vũ Văn Nhậm. Lòng dân Thăng Long lại tạm thời được ổn định. Đây là lần thứ hai, Nguyễn Huệ ra Thăng Long. Là người biết trọng dụng nhân tài, Nguyễn Huệ đã tỏ thái độ trân trọng đối với giới sĩ phu Bắc Hà. Nhiều người được yết kiến người anh hùng áo vải, thực lòng ngưỡng mộ, tự nguyện hợp tác với Tây Sơn để lo việc dân việc nước. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn, Đặng Tiến Đông là những người như vậy.

Cũng năm 1787 sau khi bỏ chạy khỏi Thăng Long, Lê Chiêu Thống đã trốn thoát sang Trung Quốc. Trên bước đường cùng, vì quyền lợi cá nhân ích kỷ, Chiêu Thống đã phản bội tổ quốc, cầu cứu nhà Mãn Thanh để chúng được dịp lấy danh nghĩa phò Lê đưa quân sang xâm lược nước ta với 29 vạn quân, chia làm 3 đạo ồ ạt tiến vào miền Bắc.

Ngô Thì Nhậm nghĩ ra kế chủ động rút khỏi Thăng Long đưa quân bộ về đóng ở Tam Điệp (Ninh Bình), quân thủy về đóng ở Biện Sơn (Thanh Hóa) lập thành phòng tuyến bảo toàn được lực lượng, đưa tin cấp báo vào Phú Xuyên, đợi lệnh quyết định của Nguyễn Huệ.

Ngày 26/12/1788, quân Thanh vào thành Thăng Long, đóng đại bản doanh tại Cung Tây Long và bố trí một hệ thống phòng thủ dày đặc:

Phía Nam là một hệ thống đồn lũy mà cứ điểm then chốt là đồn Ngọc Hồi, số quân đóng có 3 vạn, do Hứa Thế Hanh, Phó tướng của Tôn Sĩ Nghị chỉ huy.

Phía Tây Nam, một đạo quân khác do Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống chỉ huy, đóng đồn chính ở Khương Thượng (nay thuộc quận Đống Đa)

Sau khi chiếm được Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị kiêu căng tự mãn, cho quân mặc sức cướp bóc, hãm hiếp. Cả kinh thành náo loạn.

Lê Chiêu Thống ươn hèn, ngày ngày đến chờ trước đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở Cung Tây Long (nay là khu vực Ngân hàng Nhà nước) để chờ nghe lệnh truyền bảo của tướng giặc. Sách Hoàng Lê Nhất Thống chí còn chép cảnh: “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì ghi Càn Long, việc gì cũng do viên Tổng đốc, có khác gì đã phụ thuộc vào Trung Quốc”…

Bộ mặt xâm lược của quân Thanh và bộ mặt phản dân hại nước của Lê Chiêu Thống và bè lũ đã lộ rõ. Sĩ phu và nhân dân Bắc Hà vô cùng thất vọng và căm phẫn, chỉ chờ dịp được lãnh đạo nổi dậy.

Ngày 21/12/1788 (tức 24 tháng 11 âm lịch Mậu Thân) Nguyễn Văn Tuyết vào cấp báo, đến Phú Xuân (Huế ngày nay).

Ngay ngày hôm sau, 22/12/1788 (tức 25 tháng 11 Mậu Thân), chỉ có 6 ngày sau khi quân Thanh vào chiếm Thăng Long, tại Phú Xuân (Huế) Nguyễn Huệ đã làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Quang Trung, lập tức chỉnh đốn binh mã lên đường ra Bắc tiêu diệt quân ngoại xâm.

 Hoàng đế Quang Trung hạ dụ:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáo bất hoàn

Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Lời dụ này đã thể hiện rõ mục đích cuộc tiến quân (bảo vệ các truyền thống văn hóa dân tộc như các tục để tóc dài, nhuộm răng đen khác Tàu) và quyết tâm đánh giặc đến cùng (đánh cho kẻ xâm lược không kịp trở tay, thân không còn mảnh giáp) và khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam (đánh cho lịch sử muôn đời biết rằng nước Nam anh hùng này là nơi đất có chủ).

Đoàn quân Quang Trung ra Bắc bằng bước đi thần tốc, ngày 15/1/1789 (tức 20 tháng Chạp năm Mậu Thân) đến Thanh-Nghệ nhận thêm quân tình nguyện, 10 ngày sau, ngày 25/1 tức 30 tháng Chạp, đúng giao thừa năm Kỷ Dậu, đã mở màn chiến dịch đại phá quân Thanh ngay trên đất Thăng Long, mở cửa vào ở phía Nam và phía Tây.

Đêm mồng 3 Tết bao vây đồn Hạ Hồi (Thường Tín), buộc quân địch phải bỏ giáo xin hàng, rồi tiến quân ngay lên đồn Ngọc Hồi (Thanh Trì) chỉ cách Thăng Long 14 km.

Mờ sáng ngày mồng 5 Tết, quân Tây Sơn do đích thân Vua Quang Trung chỉ huy đánh một trận hỏa công, thiêu cháy hoàn toàn đồn Ngọc Hồi của quân giặc, mở đường tiến thẳng vào thành Thăng Long.

Một bộ phận còn lại của giặc tháo chạy đến Đầm Mực (thuộc xã Quỳnh Đô, nay là thôn Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì) thì bị cánh quân của Đô đốc Bảo mai phục sẵn, biến mấy chục mẫu Đầm Mực thành mồ chôn hàng vạn quân Thanh.

Cùng mờ sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu, cánh quân của Đô đốc Long chỉ huy theo đường núi tiến ra tập kích đồn Khương Thượng (tức đồn Đống Đa) phá vỡ đồn Khương Thượng rồi qua ô Thịnh Quang (nay là ô Chợ Dừa) thọc sâu vào thành Thăng Long, lao thẳng tới Đại bản doanh của chủ tướng giặc Tôn Sĩ Nghị ở Cung Tây Long. Tôn thất trận, bỏ chạy qua cầu phao, rút về nước. Cầu bị gãy vì quá tải, hàng ngàn quân bị đẩy xuống sông mà chết.

Kể từ ngày 16/12/1788, khi tên lính Mãn Thanh đầu tiên đặt chân lên đất Thăng Long, cho đến ngày 30/1/1789 (tức mồng 5 Tết năm Mậu Thân), khi kinh thành Thăng Long được giải phóng, quân Thanh đã chiếm giữ Thăng Long tổng cộng được 45 ngày và cuối cùng khi Vua Quang Trung dẫn đầu đoàn hùng binh vào quét sạch quân thù xâm lược, thì tấm giáp bào của nhà Vua đã xạm đen màu khói súng.

Với tinh thần nhân đạo, nhà Vua cho chôn cất mấy vạn quân xâm lược thành 7 gò đắp cao, nay còn lại 1 gò là gò Đống Đa, để làm nơi di tích trận đánh.

Cũng bên cạnh gò Đống Đa, nhân dân đã xây dựng nên ngôi chùa nay được gọi bằng cái tên nôm na là Chùa Bộc, trong có ngôi tượng quý, tượng nhà Vua anh hùng ngồi xổm với một cận thần (?) trong một tư thế giản dị, thân mật, rất dân dã, xứng đáng là biểu trưng của người anh hùng từ nhân dân mà ra.

Qua khói lửa chiến tranh, Thăng Long đã sống trong những giây phút hào hùng, nhưng cũng bị tàn phá khá nặng nề. Văn Miếu-Quốc Tử Giám cũng không tránh khỏi, nhà che bia bị đốt, bia có tấm bị đạp đổ lúc hỗn quân hỗn quan. Dân Trại Văn Chương (nay là phường Văn Chương) đau lòng dâng sớ lên Vua Quang Trung xin được sửa chữa. Thủ phạm chắc không phải là quân Tây Sơn lúc ấy đang tập trung vào nhiệm vụ chiến đấu đánh địch, nhưng Vua Quang Trung khi phê sớ đã dùng mấy câu thơ tự nhận lỗi về phía mình:

Thôi, thôi, thôi việc đã rồi

Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta”

Và hứa:

Nay mai dọn lại nước nhà

Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian


Trần Thái Bình
- Nhà nghiên cứu lịch sử

 

 

Send comment
Your Name
Your email address