Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
430,948

Hòn Vọng Phu

Sunday, April 28, 201312:00 AM(View: 8419)


Hòn Vọng Phu – Duy Lực Thiền

Hòn Vọng Phu là tượng đá thiên nhiên có hình người đàn bà ôm con trông ngóng chồng về. Dân gian tưởng tượng nên những câu chuyện lãng mạn và bi thương mà kết cục là người đàn bà ôm con vì chờ chồng mãi không được nên hóa thành đá.

Cố sự Trung Hoa xưa kể rằng ở thành phố Vũ Xương, tỉnh Hồ bắc Trung Quốc, một người vợ có chồng đi xa lâu ngày không về . Hàng ngày nàng vẫn ra bến sông ngong ngóng đợi chồng về . Người vợ kiên trinh vẫn giữ vững lòng chung thủy, vẫn chờ đợi, chờ hoài nhưng người chồng vẫn không bao giờ trở về, và nàng đã hóa thành đá, vẫn muôn đời chờ đợi chồng mặc cho gió mưa vần vũ trên đầu. Hòn đá đó được đặt tên là Vọng Phu Thạch, vẫn đứng sừng sững bên bờ sông Trường Giang, gần thành phố Vũ Xương.

Thi sĩ Vương Kiến đời Đường có làm bài thơ Vọng Phu Thạch:

Vọng phu xứ / Giang du du / Hóa vi thạch / Bất hồi đầu / Sơn đầu nhật nhật phong hòa vũ / Hành nhân qui lai thạch ưng ngữ

(Tạm dịch: Ở nơi đứng trông chồng / Nước sông cuồn cuộn chảy / Hóa thành đá /Đầu không ngoảnh lại /Đỉnh núi ngày ngày đội gió mưa /Khi nào người đi xa trở về thì đá mới nói).


Nhà thơ nổi tiếng đời Đường, Lưu Vũ Tích cũng có bài thơ Vọng Phu Sơn:

Chung nhật vọng phu, phu bất quy / Hóa vi cô thạch, khổ tương ti (tư) / Vọng lai dĩ thị kỷ thiên tải / Chỉ tự đương thời sơ vọng thì

(Tạm dịch: Đợi chồng đâu thấy…suốt ngày trông / Hóa đá cô liêu, cảm xót lòng / Vẫn mãi ngàn năm ngong ngóng đợi / Ban đầu thuở ấy vẫn chờ mong).


Ở Việt Nam nhiều nơi cũng có Hòn Vọng Phu :

Nằm trong quẩn thể di tích động Tam Thanh thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn có núi Tô Thị hay còn gọi là núi Vọng Phu. Trên đỉnh núi có một khối đá tự nhiên hình một người phụ nữ bồng con hướng nhìn về phương xa. Từ xưa tượng đá này đã gắn với truyền thuyết về một người con gái chung thuỷ đứng chờ chồng đi lính. Chờ mãi không thấy chồng về, nàng và con đã hoá thành đá, từ đó người dân gọi đây là tượng Nàng Tô Thị. Ngoài ra hòn vọng phu còn có ở những địa điểm khác tại VN: (i) Hòn vọng phu trên đỉnh núi Bà, Bình Định, (ii) Hòn vọng phu trên đỉnh núi M’drak, Đắk Lắk, (iii) Hòn vọng phu trên đỉnh núi Nhồi, Thanh Hóa, và (iv) Hòn vọng phu bên bờ khe Giai, bản Cơ Lêc, Nghệ An.


Có một tác giả không biết là Việt Nam hay Trung Quốc, là Lê Thu 黎秋 có làm bài Vọng Phu Thạch Phú 望夫石赋 rất dài để diễn tả tỉ mỉ câu chuyện hòn vọng phu nhưng không biết là hòn nào ở đâu. Có người nói là bài phú đó mô tả hòn vọng phu ở Vũ Xương Trung Quốc, nhưng tra trên Baidu.com không thấy.

Đại thi hào Nguyễn Du có bài thơ Vọng phu thạch trong Thanh Hiên Thi Tập :

望夫石


Vọng Phu thạch


Đá Vọng Phu (Lưu Trọng Lư)


石耶人耶彼何人?
獨立山頭千百春。萬劫杳無雲雨夢, 一貞留得古今身。
淚痕不絕三秋雨,
苔篆長銘一段文。
四望連山渺無際,
獨教兒女擅彝倫。


Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
Vạn kiếp yểu vô vân vũ mộng,
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ,
Đài triện trường minh nhất đoạn văn.
Tứ vọng liên sơn diểu vô tế,
Độc giao nhi nữ thiện di luân.


Là đá, là người, ai đó vậy ?
Chon von đầu núi mấy nghìn xuân
Thần nữ mây mưa không bén mộngVì chữ trinh một kiếp treo thân
Mưa trời – nước mắt quanh năm tháng
Rêu biếc còn đây – một áng văn…
Bao la trời đất cương thường ấy
Lại trút trên đầu kẻ yếm khăn.


Chú thích:

杳 yểu : mờ mịt, 雲 雨 vân vũ :mây mưa, điển tích Vua Tương Vương nước Sở đi chơi ở quán Cao Đường, đầm Vân Mộng, nằm mơ thấy giai nhân đến cùng chung chăn gối . Vua hỏi nàng là ai, giai nhân đáp: thiếp là Thần Nữ núi Vu Sơn, sớm làm mây, tối làm mưa chốn Dương Đài, 篆 triện : con dấu, 苔篆 đài triện : dấu rêu, 渺 diểu : nước mênh mông, 擅 thiện : chuyên, 彝 di : thường, lẽ thường (normal), 倫 luân : mối quan hệ ràng buộc trong xã hội. 擅彝倫 thiện di luân : ý nói vì chữ trinh mà bắt phụ nữ phải giữ luân thường, không được tái giá, là bất công trong xã hội phong kiến.


Thi sĩ Thái Thuận, biệt hiệu Lữ Đường sống vào đời nhà Lê có bài thơ Vọng Phu Sơn:

Hóa thạch sơn đầu kỷ tịch huân / Thương tâm vô lộ cánh phùng quân /Thiên nhai mục đoạn niên niên nguyệt /Giang thượng hồn tiêu mộ mộ vân / Thanh lệ nhất ban hoa lộ trích / Ly tình vạn chủng thảo yên phân / Tương Phi* nhược thức tương tư khổ / Bất tích ai huyền ký dữ văn

Quách Tấn dịch:

Núi Vọng Phu

blank

Hóa đá non cao chất tháng ngày / Gặp chàng biết có nẻo nào đây? / Chân trời mắt mỏi năm năm nguyệt /Mặt sóng hồn tan lớp lớp mây
Sương đọng lòng hoa rơi giọt thảm / Khói vương sắc cỏ rối niềm tây / Tương Phi ví biết tương tư khổ / Dây gởi sầu dây gởi gắm dây

Hồ Dzếnh, một thi sĩ nổi tiếng của nền thi ca tiền chiến mà nhà văn Mai Thảo đã ghi lại cảm nghĩ : “thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng …” cũng có bài thơ về Núi Vọng Phu:

Nghe nói ngày xưa biển ở đây / Biển đi để lại núi non này / Mưa nguồn chớp bể chia hai ngả / Hòn vọng phu thương vọng hải đài.
Thuở nhỏ tôi thường hay hỏi mẹ / Vì sao đỉnh núi mọc hình ngườỉ / Đợi chồng lâu quá nên thành đá / Hòn vọng phu kia đứng với đời.
Tôi lớn dần lên đá vẫn chờ / Khi xa heo hút giữa sương mờ / Khi gần sừng sững chiều biên giới / Như bức phù điêu nét chửa khô.
Không chỉ quê tôi núi đợi chồng / Còn nhiều nơi khác cảnh chờ mong / Bắc Nam đâu cũng niềm son sắt / Tạc giữa trời cao dáng thủy chung.
Ôi nhớ rêu phong hồn cẩm thạch / Mối tình vời vợi giữa không gian / Bốn nghìn năm ấy bao sương gió / Mà vẫn đinh ninh thiếp đợi chàng.

Nhạc sĩ Lê Thương có sáng tác trường ca Hòn Vọng Phu gồm 3 bài hát…

(NNS)

Clip YouTube HÒN VỌNG PHU – Phan Thới Hòa

Chuyện Hòn Vọng Phu nằm trong truyền thuyết dân gian, có ghi lại trong Linh Nam Chích Quái, một tập truyện dân gian bằng chữ Hán, xuất hiện rất sớm, có lẽ từ thời Trần. Riêng phần phụ lục, thì người đời sau thêm thắt vào, có lẽ đầu thời Lê.

Theo truyện, núi Vọng Phu thuộc huyện Vũ Xương, ở cửa bể đạo Thuận Hóa thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ. Ngày xưa có hai anh em ruột, một trai, một gái, làm nghề đốn củi. Một hôm, người anh lỡ tay chặt trúng vào đầu em, rồi tưởng em chết, bỏ trốn. Cô em được người cứu, đem về nuôi, lớn lên lấy chồng lại kết hôn đúng ngay với anh mình. Người chồng một hôm thấy vết sẹo trên đầu vợ, khám phá ra là em mình, nhưng sợ, không dám nói ra. Anh lấy cớ đi buôn rồi bỏ nhà đi. Người vợ không rõ nguồn cơn, bế con ngày ngày trông đợi và biến thành hòn đá, được dân gian gọi là đá Vọng Phu. Ở Việt Nam có nhiều tích như vậy. Cứ ở đâu có đá lớn, mang dáng dấp mẹ bồng con là nhân dân gọi là đá Vọng Phu.

Ở Lạng Sơn có sự tích nàng Tô Thị vọng phu :
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh.

Núi Vọng Phu tại Lạng Sơn đã được Nguyễn Trãi nhắc đến trong Dư Địa Chí là sách ra đời từ 1438, nhưng bị đời sau thêm thắt nhiều. Riêng chuyện Tô Thị, thì Nguyễn Thiên Túng, người đương thời với Nguyễn Trãi, có lời giải thích sai, nhầm nàng Tô Thị Việt Nam với nàng Tô Huệ tác giả bài « Hồi Văn » bên Tàu (sử gia Hà Văn Tấn đã vạch ra điểm sai khác).

Dù sao đá Vọng Phu trên đỉnh núi Tam Thanh ở Lạng Sơn cũng đã bị sét đánh, sụp đổ từ lâu. Sử sách đời Tự Đức đã nói rõ ràng như thế. Gần đây, người ta phá núi để lấy đá xây cất, nhưng nói rằng « phá Hòn Vọng Phu » thì không chính xác. Nghe nói có xây lại tượng Vọng Phu bằng vôi.

Ở Quảng Trị có câu :

Mẹ thương con ngồi cầu Ái Tử / Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu.

Núi Vọng Phu này, theo sách đã dẫn, thuộc huyện Vũ Xương thời Lê, đến thời Nguyễn đổi thành Đăng Xương, nay là Triệu Phong. Không rõ dáng Vọng Phu có còn không. Theo tên huyện có thể đặt truyện vào đầu thời Lê.

Tại Bình Định, trên đỉnh núi bên cửa Đề Gi thuộc huyện Phù Cát có hòn đá Trông Chồng, người địa phương cũng giải thích bằng truyền thuyết (đại khái) như đã kể, và có ghi lại trong Đại Nam Nhất Thống Chí.

Nhưng chính thức trên bản đồ địa dư, lập ra từ thời Pháp thuộc thì Hòn Vọng Phu thuộc tỉnh Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, giáp giới Phú Yên – thuộc tỉnh Phú Khánh ngày nay. Trên bản đồ người Pháp gọi là La Mère et l’Enfant, độ cao được ghi là 2022 mét. Cảm động là hình ảnh người vợ trông chồng hóa đá; còn vì đâu người chồng phải ra đi và đi đâu thì ai muốn giải thích kiểu gì cũng được. Người xưa dựng chuyện anh em ruột lấy nhầm nhau là để bảo vệ phong tục, đề phòng những quan hệ loạn luân – và sự việc nêu lên cũng hiếm. Đời sau cho rằng người chồng ra đi là vì chinh chiến là một dự tưởng hợp lý, trên một đất nước thường xuyên bị chiến tranh suốt mấy trăm năm. Truyền thuyết Vọng Phu, từ đó mang kích thước tâm cảm và nhân đạo, dân tộc rộng lớn hơn.


NNS


Send comment
Your Name
Your email address