Tết 2018  ·· * ··  Chúc Mừng Năm Mới Năm Mậu Tuất  ·· * ··  
   
GOOGLE DỊCH
BẢN ĐỒ THẾ GIỚI
KHÁCH THĂM VIẾNG
434,137

Chuyện vui về Chữ và Nghĩa

Sunday, March 30, 201412:00 AM(View: 4773)

1
THẦN ĐỔNG THẦN ĐỒNG
 Xưa, các ông nhà giàu trọc phú thích kén rể có học. Muốn khỏi mắc lỡm có rể học rởm, nho sĩ rởm, để ăn chắc, các trọc phú tuyển con rể từ lúc còn trái đào. Thì luật xưa cho phép cưới vợ từ bé mà lại! Một nhà giàu nọ, may mắn thay, cũng biết chút chữ nghĩa và rất thích đối.

blank


Một nhà giàu nọ, may mắn thay, cũng biết chút chữ nghĩa và rất thích đối.

Có một mụn con gái, của cải chẳng thiếu, chỉ cần có một con rể danh giá mai sau, chữ nghĩa thông tuệ, khiến làng xã phải nể. Khi con gái lên 7 tuổi, nhà giàu nọ đánh tiếng kén rể. Điều kiện rất “trí thức”: đối được những câu do tự gia chủ đặt ra. Nếu đạt, sẽ được ở rể và hưởng toàn bộ ruộng vườn nhà cửa. Những “chú bé rể” dự thi đều trượt cả. Một thầy đồ nọ làng bên có thằng con 9 tuổi, dạy cái gì cũng không nhớ, chữ nọ lộn chữ kia, tham ăn, hay cáu và mải chơi. Dạy dăm ba học trò không đủ sống, ông đồ nghĩ phải cho con trai dốt nát của mình làm rể nhà giàu nọ. Nghĩ rồi, ông đặt vè dạy trẻ con, phao toáng lên là có thần đồng tái sinh, ứng vào con trai ông. Rằng cậu bé “ít nói” nhưng ứng đối như thần, có quý tướng sau này trở nên bậc đại phu. Nghe đồn, nhà giàu nọ sửa lễ vật sang xin chữ thầy đồ và có ý thử tài “thần đồng”. Ông đồ mừng lắm, hẹn sẽ mang quý tử sang thăm đáp lễ nhà giàu nọ và để thử tài.

Đến ngày hẹn, thầy đồ dẫn quý tử sang làng nhà giàu nọ. Thằng bé rất nghịch ngợm, lấc láo nên nhà giàu nọ có ý ngờ. Nhà giàu thưa cùng thầy đồ:

- Tôi đố ý. Câu đố không đọc mà phải hiểu, tự hiểu. Rồi cháu đặt ra câu đáp lại.

Ông đồ xin vâng.

Nhà giàu nọ chỉ vào chiếc ban thờ và bảo thằng bé đối. Thằng bé chẳng hiểu gì cả, trông lên bàn thờ, nó thấy một đĩa bánh rán mật rất ngon, nó liền chỉ vào đĩa bánh rán. Ông nhà giàu ngạc nhiên, nói: “Nó chỉ thế là nghĩa làm sao?”

Thầy đồ phân trần:

- Thưa, cháu đối rất sát ý, tỏ ra cháu hiểu ý của ông. Này nhé, ông chỉ vào ban thờ có ý nói “Đẹp vàng son”, cháu đối lại “Ngon mật mỡ”. Thế bánh rán chẳng rán bằng mỡ và phủ ngoài bằng mật là gì.

Nhà giàu chịu là tài, nhưng lại nghĩ: có khi thằng bé gặp may đoán mò mà đúng ý chăng. Bèn lại ra câu đố nữa. Nhà giàu chỉ vào cây cau, rồi lặng im. Thằng bé chẳng biết mô tê ra sao cả. Thấy một con cua bò dưới gốc, nó liền chỉ vào con cua đòi bắt. Nhà giàu nọ cáu ra mặt, nói:

- Sao lại đối như vậy. Nó có hiểu gì đâu mà đối!

Thầy đồ vội cất giọng:

- Câu đối tuyệt hay! Tuyệt hay! Thưa, cháu đối thế là có ý của bậc quân tử, tư tưởng của bậc anh hùng cái thế. Có phải ông chỉ cây cau là có ý ra câu đối “Nhất trụ kình thiên” (một cột chống trời). Người ra câu đối đã có tư tưởng đại trượng phu, kẻ đối lại cũng tỏ rõ chí khí lệch trời khuấy nước, khi đối là “Bát túc hoành địa” (Tám chân tung hoành trên mặt đất). Chẳng là con cua có tám chân ư?

Nhà giàu nghe có lý quá! Hơn nữa, thầy đồ lại tán rằng chủ nhà là bậc đại trượng phu thì còn gì thú vị bằng. Mười phần đã ưng chọn thằng bé làm rể tới tám phần, nhưng lão nhà giàu nghĩ: ta thử câu nữa cho chắc, nếu đối được và đoán đúng ý ta thì thằng bé này quả là thần đồng. Nhà giàu chỉ vựa thóc chiếm cả gian nhà, bảo thằng bé đối. Ý lão nhà giàu muốn khoe sự giàu có và cũng là cách cho “thần đồng” – con rể tương lai của lão – thấy để hám của mà xin làm rể lão. Nhưng thằng bé thấy cứ lôi nó hết chỗ này ra chỗ khác, bánh rán không cho ăn, cua không cho chơi, quen thói lếu láo ở nhà, nó tức quá khóc ầm lên và vạch quần chỉ vào chim của nó để ê lão nhà giàu. Lão nhà giàu tái mặt vì tức, chưa bao giờ hắn gặp một thằng bé láo như vậy, hắn quát lên:

- Thằng bé này mất dạy quá! Gia nhân đâu, nọc nó đánh đòn cho chừa thói hỗn!

Thầy đồ cười ầm lên rồi nói:

- Ông không hiểu cháu nó rồi! Nó rất hiểu câu đối của ông, mà đối lại rất hay cơ đấy. Xin giải để ông nghe. Ông chỉ vào vựa lúa, tức ý ông muốn nói “Dưỡng thiên hạ chi công” (có công nuôi thiên hạ). Cháu chỉ vào chim, tức có ý đối là “Nối tổ tông chi nghiệp” (nối nghiệp của tổ tông). Đó là câu đối hay nhất. Chỉ có thần đồng hoạ mới nghĩ ra.

Lão nhà giàu được giải thích, nghe khoái quá. Và lão nghĩ: Đúng là một thần đồng. Nuôi nó lớn lên, nó sẽ đỗ trạng nguyên. Ta sẽ là bố trạng. Lão nói lẩm bẩm: Thần đồng! Thần đồng! Còn thằng bé chẳng hiểu sao, đọc theo: Thần đổng thần đồng.

 

2

HẾT KHOE CHỮ

Một nhà sư hay khoe chữ, ở chùa vắng không có đối thủ đối đáp nên rất mong có khách hay chữ vãn chùa, có dịp trổ tài.

Một lần có bọn học trò tới thăm chùa. Nhà sư gặp dịp may, ra câu đối và thách bọn học trò đối lại:

Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.

Nhận ra câu đối có ý chọc xỏ mình, một anh học trò trong bọn không kiêng nể nữa, đối đáp trả miếng ngay(1)

Trên sư dưới vãi, ngoảnh lưng trở lại, trên vãi dưới sư.

Vế đối xỏ ngọt ở các chữ trên và dưới. Nhà sư tịt mít, từ đó chỉ lo kinh kệ, không dám khoe khoang chữ nghĩa nữa.

 

3

"NHƯ IN THẢO MỘC TRỜI NAM LẠI"

Đó là một trong hai câu thơ của bà huyện Thanh Quan. Nguyên do là thế này. Minh Mạng là ông vua rất nhiều vợ, tính tình rất nghiêm khắc, cực kỳ khó tính và chấp nê, nhưng cũng giỏi thơ phú và ưa thơ phú. Khi bà huyện Thanh Quan theo chồng về kinh đô Huế, tiếng đồn bà là người Thăng Long lịch lãm, học vấn uyên bác, thơ phú nổi tiếng và là người phụ nữ đức hạnh đã làm cho Minh Mạng để ý, cho vời vào triều dạy các cung nữ, được cử làm Cung trung giáo tập.

Một lần, có quan trong triều dâng vua bộ chén rất đẹp vẽ tranh sơn thuỷ của Việt Nam, nhưng là bộ chén được làm và tráng men từ Trung Hoa. Minh Mạng đem bộ chén khoe các quan trong nội thất, nhân có bà huyện Thanh Quan đứng bên, nhà vua phán bảo bà làm hai câu thơ chữ Nôm để vịnh bộ chén. Bà lĩnh ý và đọc ngay:

Như in thảo mộc trời Nam lại

Đem cả sơn hà đất Bắc sang

Câu thơ vịnh đối ý tuyệt hay. “Thảo mộc trời Nam” là vì trên bộ chén có in cảnh cây cỏ của Việt Nam. “Sơn hà đất Bắc” là vì chén được làm bằng đất sét, nung và tráng men của Trung Hoa (phương Bắc). Tất cả đều khen. Minh Mạng cho là tài.

Để thử bà huyện Thanh Quan có đúng như tiếng đồn không, nhà vua nhìn thấy bức tranh sơn thuỷ trên tường, bèn phán:

- Ta ra cho khanh một vế đối, khá tìm ý đáp lại! – Và đọc:

Quài thư bích thượng, tận thu tứ hải sơn hà

(Nghĩa: Treo tranh trên tường, thu hết non sông bốn biển lại).

Bà huyện Thanh Quan nhớ ngay câu đối này đã đọc trong một cuốn sách xưa, chứ không phải do Minh Mạng nghĩ ra. Nhưng không muốn để vua biết vế đối ấy không phải là của vua, chỉ là mượn của người khác, bà tìm một vế đối không có sẵn trong vế đối lại của câu đối đó:

“Tẩy túc trì trung, dao động cửu thiên tinh đẩu”

(Nghĩa: Rửa chân trong ao, lay động trăng sao chín tầng).

Đối lại đã nhanh, ý lại thanh thoát, câu chữ đối đáp rất chỉnh, vua thấy không phật ý. Từ đó bà được Minh Mạng tin tài.

Bà huyện Thanh Quan – đó chỉ là chức danh gắn với chồng bà – tên thật là Nguyễn Thị Hinh(2) sinh ra và lớn lên ở Nghi Tàm, Hà Nội. Là người tài hoa, thơ sâu sắc, tính tình đoan trang, bà Nguyễn Thị Hinh đã sớm nỗi tiếng trong thi đàn đất Thăng Long thuở ấy. Khi lấy chồng là ông huyện Thanh Quan, bà và chồng là đôi tri kỷ, vì ông là người dòng dõi và đức độ. Cũng vì hay chữ mà bà huyện Thanh Quan đã làm chồng mất chức. Số là, có một cô gái nông thôn tên là Nguyễn Thị Đào đem đơn lên huyện xin quan huyện cho li dị chồng. Chồng cô bỏ mặc không đoái hoài, sống với người khác đã nhiều năm. Quan huyện đi vắng, bà huyện Hinh nhận đơn thay chồng, sẵn ý trong đầu, dùng thơ phê luôn vào đơn:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào

Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?

Chữ rằng: xuân bất tái lai(3)

Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già”.

Cô Đào được huyện quan bênh vực đi lấy chồng, nhưng người chồng cũ vốn là con chánh tổng, liền đâm đơn lên quan trên và đút lót tiền để xoá án. Kết cục là ông huyện Thanh Quan bị giáng chức!

Kể theo PGS. TS. Nguyễn Trọng Báu

Send comment
Your Name
Your email address